![]() |
|
|||||||
| CLB dành cho anh em Trung Kiên xin mời các bạn cùng tham gia diễn đàn dành riêng cho anh em |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#1
|
||||
|
||||
|
tại đây mình sẽ pots nhưng cái bài thơ mình cho là hay hay , cũng có cả cảm nghĩ nếu mình hứng lên mà bình loạn hihif
|
|
#2
|
||||
|
||||
|
Bài thơ "Ông đồ" của thầy đã dẫn dắt chúng tôi bước vào mùa xuân, đi chợ Tết và tấm tắc khen tài của thầy đồ nho viết câu đối Tết:
"Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ông đồ già Bày mực tàu, giấy đỏ Bên phố đông người qua. Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc ngợi khen tài Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay...". Nhưng rồi đọc đến khổ thơ kết thứ 5, lòng tôi xúc động sững sờ, bần thần như gặp nguồn thi cảm hoài cổ, nhớ thương của thầy chan chứa trong thơ. Thầy nhớ cảnh cũ, người xưa, thương cho thân phận ông giáo dạy chữ Hán đã hết thời, tiều tụy, đáng thương chuyển sang nghề viết thuê mà không đắt! "Năm nay đào lại nở Không thấy ông đồ xưa Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ?" Thật là tiếng lòng thảng thốt, xót xa như chính thầy đã tự thốt ra: "Ông đồ, ông chính là cái di tích tiều tụy, đáng thương của một thời tàn" (Lời thư của Vũ Đình Liên ngày 9.1.1941). Tác giả bài thơ "Ông đồ" nổi tiếng đó chính là người đã xây đắp nền móng cho phong trào Thơ mới của Việt Nam từ những năm 36 của thế kỷ XX, đồng thời là một "lương sư" mẫu mực từ trường phổ thông đến trường đại học, là giáo sư đào tạo chuyên gia tiếng Pháp cho ngành giáo dục Việt Nam. Nhà thơ, NGND. Vũ Đình Liên sinh ngày 12.11.1913 (tức ngày 15.10 năm Quý Sửu) ở Hà Nội. Quê gốc của thầy ở Châu Khê, Bình Giang, Hải Hưng với dòng họ Vũ giàu truyền thống văn hiến. Thuở ấu thơ, thầy là một học trò giỏi có tiếng ở đất Hà thành. Đỗ tú tài trường Bưởi năm 1932, thầy dạy học ở các trường tư thục Thăng Long, Gia Long, Trường nữ sinh Hoài Đức vừa để kiếm sống vừa có điều kiện học Đại học Luật. Thời gian này, Vũ Đình Liên cũng bắt đầu xuất hiện như một nhà thơ, nhà báo trên báo Phong hoá của Đoàn Phú Tứ, và một số báo khác như Phụ nữ thời đàm, Tinh hoa... Ông chủ trương mở Tạp chí Giáo dục bằng tiếng Pháp: Revue Pédagogique. Cách mạng tháng Tám 1945 đã đổi đời tác giả bài thơ "Ông đồ". Thầy hăng hái rong ruổi trên đường kháng chiến. Năm 1946 - 1948, thầy làm Uỷ viên Uỷ ban hành chính - kháng chiến huyện Ân Thi (Hải Hưng), năm 1948 - 1950 là Hội trưởng Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác Liên khu III. Từ năm 1950 đến năm 1953, thầy trở lại với nghề sư phạm, làm giảng viên Trường Trung cấp Sư phạm. Năm 1953 đến 1956, thầy được cử giữ chức Trưởng Phòng Huấn học Nha giáo dục phổ thông. Năm 1956 đến 1957, thầy giữ nhiệm vụ Tổ trưởng Tổ Văn học - Ban Tu thư thuộc Bộ Giáo dục. Năm 1957, thầy được bầu làm Tổ trưởng Tổ Giáo học pháp Khoa Văn học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và năm 1962 thầy làm Chủ nhiệm Khoa Pháp để đào tạo giáo viên làm chuyên gia tiếng Pháp cho các nước châu Phi, châu Mỹ - Latinh, châu Đại Dương. Từ năm 1969, thầy được điều động làm cán bộ nghiên cứu khoa học, đảm nhiệm việc nghiên cứu khoa học và bồi dưỡng giáo viên cho đến lúc nghỉ hưu. Có thể nói GS. Vũ Đình Liên là một con người nhân ái, bao dung, bao quát trên 2 cương vị: Nhà thơ để lại nhiều tập thơ và đặc biệt là bài thơ "Ông đồ" bất hủ, sống mãi với thời gian; nhà giáo từ phổ thông đến đại học, một lương sư mẫu mực, nhuần nhuyễn văn hoá - ngôn ngữ Pháp. Hai cương vị đó hài hoà, gắn bó vào con người và cuộc đời của thầy. Con người đó, cuộc đời đó càng rạng rỡ, chói sáng sau Cách mạng tháng Tám quang vinh. ... Tôi nhớ mùa xuân 1962, nghe thầy giảng tiếng Pháp ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tôi phấn chấn tự hào rằng: "Ông đồ" ngày nay, trải qua cuộc thử thách 9 năm kháng chiến chống Pháp và mấy năm hoà bình xây dựng đất nước đã tỏ ra sáng láng, tài ba, sáng tạo, đang mở rộng tầm nhìn của mình vượt khỏi bờ tre, chợ búa, đường phố đến tận đất trời xa xôi, sang tận châu Âu, châu Phi, châu Mỹ Latinh và châu Đại Dương. Chính tác giả bài thơ "Ông đồ" đang dồn tâm huyết, dốc trí tuệ để đào tạo đội ngũ chuyên gia giáo dục Việt Nam đi phát triển văn hoá, văn minh nhân loại thông qua Pháp ngữ. Khi làm chuyên gia giáo dục đại học tại châu Phi, tôi tình cờ tự hào đọc trong tập san "Jeune Afrique" (châu Phi trẻ tuổi) bài viết giới thiệu bài thơ "Ông đồ" và tác giả tài năng mẫn cảm - thi sĩ Vũ Đình Liên! Bài thơ "Ông đồ" và tác giả đã được các báo chí nước ngoài giới thiệu qua gần 10 thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Trung, Đức, Thụy Điển, Đan Mạch, Bồ Đào Nha, Ả Rập... Thật là một bài thơ bất hủ của nhà thơ, nhà giáo Vũ Đình Liên. Khi chiến tranh leo thang của không quân Mỹ mở rộng ra miền Bắc nước ta, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội sơ tán về các vùng nông thôn, xa Thủ đô. Thầy vẫn hằng ngày đi giảng dạy tiếng Pháp không phải ở nơi giảng đường khang trang mà trong các ngôi đình làng hay các lán trại ẩn dưới các lùm cây xum xuê. Giọng thầy vẫn sang sảng giảng tiếng Pháp, đọc thơ Lamartine, Baudelaire, Victor Hugo như một nguồn đam mê bất tận... Mãi đến năm 1975, lúc đó thầy đã 63 tuổi, về hưu và ở tạm căn nhà 3 gian thuộc thôn Tiền, cách Trường Đại học Sư phạm Hà Nội khoảng 300m. Thầy vẫn cặm cụi làm thơ, dịch thơ tiếng Pháp, đọc sách báo mặc dầu đôi mắt thầy đã mờ, thị lực giảm sút. Chúng tôi thường đến thăm thầy ở đó và thầy vui vẻ, thân mật, vồn vã trò chuyện khoe với chúng tôi những vần thơ thầy mới sáng tác ngay trên bàn án thư kê ở góc sân dưới bóng chiều xuân ấm áp. Thầy cho chúng tôi xem tập thơ văn khá dày dặn được chuẩn bị công phu "Người kỹ nữ cầu Trò" vẫn chưa được dịp ra mắt độc giả. Thầy xúc động trình bày quá trình hình thành tập thơ "Đôi mắt" đã được xuất bản năm 1975 cùng với 2 công trình nghiên cứu văn học của thầy: "Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam" (đồng tác giả với nhóm Lê Quý Đôn) và "Nguyễn Đình Chiểu - nhà chí sĩ yêu nước". Thầy thổ lộ: "Hạnh phúc lớn nhất cuộc đời nhà thơ, nhà giáo của tôi là được chia sẻ niềm vui và nỗi buồn với tất cả mọi người". Đúng vậy, trong bài thơ "Gửi Bùi Xuân Phái" (Nhà họa sĩ từ cảm hứng mà bài thơ "Ông đồ" đã mang lại vẽ bức tranh độc đáo về ông đồ), thầy có hai câu thơ kết thể hiện lý tưởng làm thơ, làm nghệ thuật của mình: "Thiêu thân nghệ thuật là duyên nghiệp Đốt trái tim trầm gửi gió hương!" Nhắc nhở mình, đồng thời cũng để dặn dò các giáo viên chúng tôi, Ông tâm sự: "Giáo dục có một vấn đề chung, một quan niệm chung là phải yêu đời và luôn luôn lạc quan. Đó là lý tưởng của tôi. Nhưng hiện nay, dường như ta bắt gặp nhiều hiện tượng buồn hơn là vui... Dù vậy, tôi vẫn tin rằng nền giáo dục nước ta sẽ có thay đổi đáng kể trong thời gian tới. Để được như vậy, theo tôi điều đầu tiên là phải gây lại tình thương thời thực dụng. Tiên học lễ thì hậu mới có thể học văn". Cuộc sống của nhà giáo, nhà thơ Vũ Đình Liên thật giản dị, khiêm nhường, lạc quan, ưu ái với mọi người, gần gũi yêu thương học trò. Hình như cuộc đời thầy, thầy không thắc mắc, so đo, tính toán cho mình mà chỉ có tình thương bao dung với bao số phận, từ Ông đồ hiu quạnh của một thời tàn đến những trẻ em lang thang mồ côi, không mái ấm gia đình, không nơi nương tựa, không được đến trường học. Ghi nhận tài đức, công lao đóng góp của thầy vào sự nghiệp giáo dục đào tạo, Nhà nước ta phong tặng thầy danh hiệu cao quý - Nhà giáo nhân dân đúng vào Ngày nhà giáo Việt Nam (20.11) năm 1991. Nhân dịp lễ phong tặng đó, một cử chỉ đẹp đẽ, một biểu hiện trong sáng về lòng vị tha, bác ái của thầy đã làm cho bao nhiêu thầy giáo, bao nhiêu thế hệ học trò thán phục. Thầy đưa đôi bàn tay gày guộc tiếp nhận bằng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, ấp vào tim mình, vui mừng cảm động đến ứa nước mắt. Mười triệu đồng tiền thưởng kèm theo thì thầy tặng lại cho quỹ giúp đỡ học trò nghèo. Mặc dầu gia tài của thầy những năm tháng cuối đời có lẽ không hơn gì ông đồ xưa, cần giữ lại phần thưởng trọn đời làm thầy giáo đó để tĩnh dưỡng tuổi già sức yếu? Nhưng không, thầy tự nguyện gửi tặng cho trẻ em nghèo tất cả. Mà đâu chỉ có thế! Lòng ưu ái thấm sâu vào trái tim thầy, thể hiện trong sự thầm lặng ngậm ngùi đối với trẻ em thất học, lang thang trên hè phố. Hằng năm cứ đến sáng mồng một Tết Nguyên đán, thầy xuất hành kèm theo cái túi vải đựng dăm chiếc bánh chưng, một vài gói mứt kẹo, bánh ngọt, thầy đi ra các ngả phố vắng và công viên để mừng tuổi, chúc mừng xuân mới cho những cuộc đời và số phận của trẻ mồ côi, không gia đình, không nơi nương tựa. Bỗng nhiên, tôi chợt nhớ lại buổi chiều xuân đến thăm thầy nơi sơ tán, nghe thầy say sưa giảng tiếng Pháp trong ngôi đình cổ của làng quê thân thiết, tôi làm bài thơ tứ tuyệt, mở đầu bằng hai câu đối để tôn vinh thầy và ghi vào sổ tay thơ của mình để một mình mình đọc, một mình mình suy ngẫm và noi gương thầy, lo tu dưỡng, học tập, nghiên cứu khoa học. "Đình trung sang sảng giảng tiếng Pháp, Liên tưởng ngẩn ngơ mơ ông đồ. Đức cao ưu ái hay ban phát, Độ lượng thương người, quý tự do!" trích từ :báo điệntử của DHQG HÀ NỘI |
|
#3
|
||||
|
||||
|
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già Bày mực tàu giấy đỏ Bên phố đông người qua. Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc ngợi khen tài “Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay.” Nhưng mỗi năm mỗi vắng Người thuê viết nay đâu Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nghiên sầu. Ông đồ vẫn ngồi đấy Qua đường không ai hay Lá vàng rơi trên giấy Ngoài trời mưa bụi bay. Năm nay đào lại nở Không thấy ông đồ xưa Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ? ĐÂY LÀ BẢN PHUN NHÉ! |
|
#4
|
||||
|
||||
|
ĐÂY LÀ BÀI THƠ VÔ ĐỀ CỦA CỤ
Cụ Phạm Quỳnh ơi, cụ Thượng ơi! Tài hoa như cụ có đâu hai. Truyện Kiều còn mất – dân còn mất Ngọn gió Nam Phong mát đất trời Lưỡng quốc Trạng nguyên xưa đã có Tam bang uyên bác bây giờ ai Lương Đường, Mộ Trạch và Chu Xá Phạm, Vũ công danh sự nghiệp đời. 28/8-3/9/1992 Gác Hương Lửa, 156b Bà Triệu- Hà Nội một bài bình loạn chơi lại thôi : phạm, vũ công dạnh sự nghiệp đời nguyễn ,lê, hoàng há kém người vẻ vàng ngừoi tài ngẫm cùng bạt ngàn trăm hoa khoe sắc thi tài ngán chi ngại chi điều tiếng thị phi người ta ko hiêu, xá gì người ta tài năng nếu có việc gì phải bỏ chỉ sợ đóng ,góp chưa nhiều chết đi hối, tiếc sống thời xót xa trước là răn dậy trong nhà sau gia giúp sức , đất nước nhà dợi mong người tài được mong, tới mỏi muồn phần sống giựa bằng luồn cúi làm chi? chết đi liệu co cười được, khi người khóc than! nghĩ càng nhiều thì làm càng khó muôn vàn. thay đổi nội dung bởi: huyngoc, 05-09-2009 lúc 04:59 PM. |
|
#5
|
||||
|
||||
|
CỤ HOÀNG LỘC LÀ NGƯỜI LÀNG MÌNH ĐẤY
Viếng bạn Hôm qua còn theo anh Đi ra đường quốc lộ Hôm nay đã chặt cành Đắp cho người dưới mộ Đứa nào bắn anh đó Súng nào nhằm trúng anh Khôn thiêng xin chỉ mặt Gọi tên nó ra anh! Tên nó là đế quốc Tên nó là thực dân Nó là thằng thổ phỉ Hay là đứa Việt gian? Khóc anh không nước mắt Mà lòng đau như thắt Gọi anh chửa thành lời Mà hàm răng dính chặt. Ở đây không gỗ ván Vùi anh trong tấm chăn. Của đồng bào Cửa Ngăn Tặng tôi ngày phân tán. Mai mốt bên cửa rừng Anh có nghe súng nổ Là chúng tôi đang cố Tiêu diệt kẻ thù chung. SƯU TẦM TRÊN MẠNG MONG TÁC GIẢ BỎ QUÁ CHO MÌNH NHỚ LẤY Ở ĐÂU |
|
#6
|
||||
|
||||
|
em chỉ xin các bác hai chữ đại xá và đừng nghĩ bậy nhé
bút tre ngồi nghĩ tàn canh cho mai bén trúc cho anh bén nàng bút tre thơ cũng đang hoàng đọc lên hay thế mà nàng lại chê. thời buổi thị trường tiền , vàng mất giá mà nàng care(carefully)bảo chả nghe thôi đành tạm gác bút tre mong đơi sau co người nghe nối nghiềm(nghiệp) bút tre nằm thở chờ thồi cho trời tụt xuống , đất bời lên cao bút tre ngồi nghĩ làm sao để bút náy có vàng nghần ngừoi dùng chung nghiệp bút tre ngâm (ngẫm )cũng khôn cùng......tùng Đây là tổng hợp thơ Bút Tre của tôi ****** Thi đua ta quyết thi đua Thi đua ta quyết tiến lên hàng đầu Hàng đầu rồi biết đi đâu Đi đâu không biết, hàng đầu cứ đi. * Chị em du kích giỏi thay Bắn máy bay Mỹ rơi ngay “cửa mình”. * Anh đi công tác Pờ lây Cu dài dằng dặc biết ngày nào ra Họp xong anh ghé Buôn Mê Thuột xong một cái lại về với em Còn em, em vẫn ở nhà “Cửa mình” vẫn mở, khách vào khách ra. * Hoan hô đồng chí Phong Thu Đêm nằm đồng chí thò c... ra ngoài. * Hoan hô đồng chí Phạm Tuân Bay vào vũ trụ một tuần về ngay. * Sầm Sơn sóng vỗ dập dồn Chị em phụ nữ ngửa l... ra phơi. * Chị em nô nức đánh cầu Lông bay lả tả trên đầu anh em. * Hoan hô! đồng chí Trần Đăng, ấn cho tàu chạy băng băng như rùa. * Chị em nô nức đặt vòng Hoa mộ liệt sĩ tỏ lòng biết ơn. * Anh đi công tác Cam Pu Chia chiến lợi phẩm ở tù ba năm. * Anh đi công tác bản Mường Tè xong một cái lại về với em. * Hoan hô các cụ trồng cây Mười cây chết chín một cây gật gù. * Chị em ta uống Co-ca Chui vào cửa miệng chui ra “cửa mình”. * Hoan hô lực sĩ Lưu Trùng Dương vật nổi tiếng khắp vùng Hải Hưng. * Hôm nay ngồi học cả “buồi” (buổi) Ăn một quả chuối gọi là tĩnh... dương (tĩnh dưỡng). * Trên cành có đậu một con Chim mẹ to vật đang bòn (bón) chim con. * Con mèo đánh đổ cái bô Sau đây liên khúc đít-cô (disco) bắt đầu. * Trên trời mây trắng như bông Ở dưới cánh đồng mông trắng như mây. * Hàng Bông nô nức tiếng đồn Có cô bán trứng vịt l... rất to. * Trung thu Tết của thiếu nhi Thanh niên nam nữ ấy đi là nhiều Chẳng may họ có làm liều Vài ba năm nữa lại nhiều... thiếu nhi Thế rồi lại rủ nhau đi Bác sĩ nhiều lắm, tội chi không liều Mấy khi có dịp làm liều Nếu mà đi “ủng” chẳng nhiều... thiếu nhi. * Nhà tớ có con mái già Thằng chồng nó đã thành ma lâu rồi Thế nên “bứt rứt” chuyện đời Nàng ta quyết định đi mồi trống choai Một hôm gặp được gã trai Trẻ trung bụ bẫm tràn đầy sức xuân Nàng ta bẽn lẽn đến gần: “Ê ku! mày thích mặc quần hay không?” Thế là, cởi hết chạy rông Thế là, xong dzụ kiếm chồng ô hô! * Thơ tay anh viết thật bay Bướm em trông đợi cả ngày cả đêm. * Hôm qua em đi hái chè Gặp thằng phải gió nó đè em ra Em lạy nhưng nó chẳng tha Nó lại đút cái “mả cha” nó vào Đút vào vừa sướng vừa đau Em càng giẫy giụa, “nó” càng vào sâu Đè em được một lúc lâu Cái thằng phải gió đi đâu mất “hình” Hôm sau em đi hái chè Mong thằng phải gió... lại đè em ra. * Thu Bồn ngồi cạnh Thu Mai Thu Mai thích quá sờ vai Thu Bồn Thu Mai ngồi cạnh Thu Bồn Thu Bồn quá khích sờ l... Thu Mai. * Hoan hô chị em đá cầu Trinh rơi cái tơm xuống đầu các anh. * Trẻ nào chẳng ị... vào bô Sau đây là điệu sì-lô (slow) bắt đầu. * Nguời nào mà chẳng có lông Sau đây bài “Lá diêu bông” hát bè. * Chim khôn chim đậu cành cao Bướm khôn bướm đậu ngay vào... đầu chim. * Số tôi số chẳng ra gì Vợ thì đời cũ, ti vi đời đầu Đời đầu nên chẳng có râu Xoa mông vỗ đít mà mầu chẳng lên Ti vi hàng xóm nhà bên Chưa sờ đến núm đã lên ầm ầm Ước gì trời nổi cơn giông Để tôi sang đó ôm nhầm ti vi. * Bướm đồng động đến thì bay Bướm nhà động đến lăn quay ra giường Chim đồng bóp cái chết ngay Chim nhà bóp cái càng ngày càng to. * Mời anh vào quán kara OK em đã mở ra sẵn sàng. * Ta đi bầu cử tự do Chọn người xứng đáng mà cho vào hòm. * Ở trong hang đá đi ra Vươn vai một cái rồi ta đi vào. * Ước gì em biến thành trâu Để anh là đỉa anh bâu vào đùi Ước gì anh biến thành chầy Để em làm cối (anh) giã ngày giã đêm. * Nhớ quê ra đứng đỉnh đèo Bỗng đâu thấy một chú mèo gâu gâu. * Chưa đi chưa biết Đồ Sơn Đi rồi mới biết chẳng hơn đồ nhà Đồ nhà tuy xấu tuy già Nhưng là đồ thật hơn là đồ “sơn”. * Giải quyết đúng chỗ Thả giấy vào bồ Giật hát hai ô! (H2O) Thả cho đúng lỗ mới tài Thả chưa đúng lỗ ấy tài còn non! Còn non thì mặc còn non Ném trật vài “hòn” thì đã làm sao? Làm sao là nghĩa thế nào?! Ném trật không vào là mất vệ sinh! Vệ sinh thì mặc vệ sinh Kỹ thuật trung bình thì chỉ thế thôi! Thế thôi thì hãy lên đồi Giải quyết xong rồi thì hẵng xuống đây! Lên đồi nhớ tìm chỗ ngồi Ngồi không đúng chỗ “nó” chồi vào mông. * Hồng đẹp là hồng có gai Gái “đẹp” là gái... nạo thai nhiều lần. * Thứ Hai em phải đi làm Thứ Ba em cũng vì làm phải đi Thứ Tư làm việc nên đi Thứ Năm càng phải vội đi để làm Thứ Sáu em cũng phải tham Thứ Bảy bận quá vì làm phải đi Chủ Nhật thủng thẳng nghĩ suy Ở nhà buồn quá có khi... đi làm. * Tin đâu sét đánh ngang tai Lê-nin đang sống chuyển sang từ trần Lê-nin đang ở nước Nga Đánh đùng một cái ông ra nước ngoài Lê-nin đang ở nước ngoài Đánh đùng một cái ông nhoài về Nga. * Vào trong lăng Bác âm u Chị em phụ nữ bỏ mu (mũ) ra chào. * Hoan hô các cụ đi tù Ngồi trong khe đá “hẫy” c... ra ngoài. Ngày xưa ở một làng kia Có cha con nọ nhà rìa bờ sông Nhà nghèo không có một đồng Người cha có khố, con không có gì Một hôm cha sắp “ra đi” Gọi người con lại dặn dò mấy câu Con ơi! con sống còn lâu Còn ta, ta sắp sang chầu “bên kia” Quần bò con giữ lấy đi Về sau tán gái có gì đi chơi Nhà ta giàu có ba đời Chỉ vì đề đóm mà ra thế này Con ơi! hãy hứa từ nay Thôi trò cờ bạc để rày làm ăn Nói xong, cha bỗng nhăn răng Miệng sùi bọt mép, mắt căng lên trời Đồng Tử thấy bố qua đời Không tiền mai táng thân phơi giữa đồng Chẳng đành để bố tồng ngồng Mặc quần cho bố, giơ mông về nhà Một hôm Công chúa đi qua Đang ngồi ngắm cảnh, bỗng da ngứa mần Công chúa bèn trút long thần Thấy quanh mình vắng nhảy ầm xuống sông Ai dè rơi trúng Tử Đồng Đang mò cua cá dưới sông một mình Tử Đồng sợ quá, tưởng ma! Định thần nhìn lại, hoá ra là người Cu cậu thấy thế thầm cười Thế là ta sẽ có ngừoi sẻ chia Tử rằng: “Cô lấy ta thôi, Cô mà không lấy, ta thời tố cô, Bố cô mà biết xong đời! Thì ông ta giết cả tôi và nàng” Tiên Dung hoảng hốt vội vàng: “Em thì em sẽ sẵn sàng lấy anh Nhưng tin về đến kinh thành Vua cha biết chuyện thì anh đi đời” “Ôi xời lo quá cưng ơi! Ở đây buôn bán bằng mười về kinh” Dung ta nghe cũng đồng tình: “Thôi thì cũng được, chúng mình lấy nhau” Hai người từ đó về sau buôn đi bán lại nhà giàu rất nhanh Một hôm tin đến kinh thành Vua cha biết chuyện giận xanh cả người: “Tại sao lại thế hả trời?' Nói xong truyền gọi bề tôi Đem quân đến đánh để lôi con về Quan quân vừa đến triền đê Bỗng nhiên có tiếng rề rề trên cao Rồi đâu gió cuốn ào ào Bốn bề cát bụi không sao thấy đường Tướng quân con mắt tinh tường Nhìn về phía ấy mà thương số mình Đồng tử biết trước tình hình Thuyền cao cũng đắm, phà to cũng chìm Việt Vương thấy thế sướng mình Trước sau ập tới ngư kình một phen Địch quân tơi tả như hèm Bốn bề bủa kín tưởng kèm thiên la Bấy giờ cọc mới nhô ra Thuyền đâm vào cọc thế là chìm luôn Bốn bề tên bắn như tuôn Tướng giặc nguy khốn đành giương cờ hàng Thuyền trôi xác giặc ngổn ngang Máu loang đỏ thắm, nước tràn bờ cao Việt Vương lúc đấy thều thào “Ai vừa tới giúp?! ta nào có hay Thôi thì ta tính thế này, Để ghi công họ ta xây miếu thờ Đầm này tên gọi Nây-chờ (nature) Bãi này Nhất Dạ hãy thờ ở đây! * Em đi công cán đảo Côn Lôn rộng bát ngát, bồn chồn nhớ anh Mặc dù lòng tự nhủ rằng: “Khi đi em nắm cổ tay Khi về em nắm... chỗ này, chỗ kia.” * Hôm nay mồng Tám tháng Ba Chị em phụ nữ đi ra đi vào Anh em nam giới mời chào Chị em phụ nữ đi vào đi ra Hiện đại như ở nước Nga Chị em phụ nữ hết ra thì vào Lạc hậu như ở nước Lào Chị em phụ nữ hết vào lại ra Xa xa ở tận Cu Ba Chị em phụ nữ vừa ra lại vào Gần gần như ở Hàng Đào Chị em phụ nữ vừa “vào” đã... “ra”. * Việc gì phải tận nước Nga Việc gì “tám” chuyện Cuba với Lào Hãy đến bất cứ nhà nào Chị em không việc cũng vào cũng ra Thật là ngứa mắt chúng ta Nhưng thôi cứ để họ ra họ vào Không thì “cửa sắt” họ rào Anh em đố có dám “vào” dám “ra”. * Tuổi già nhưng sức không già “Đẩy” lên “đẩy” xuống như là thanh niên Tuổi già rất thích “tiểu liên” Bắn tung bắn tóe đảo điên bao nàng! * Chưa đi chưa biết Sài Gòn Đi rồi mới biết chẳng còn một xu Về nhà mới biết mình ngu Thằng lớn ăn ít thằng cu “ăn” nhiều. * Rộng lớn như thể nước Nga Người ta không cấm thò ra thụt vào Nhỏ bé như thể nước Lào Cũng không có cấm thò vào thụt ra Chỉ riêng có nước ta Đâu đâu cũng cấm thò ra thụt vào. * Thu đi, để lại lá vàng Anh đi, để lại cho nàng thằng cu * Hôm nay trên quốc lộ hai Thể nào cũng có một vài... ô tô (!) * Làm thơ nên tránh vần ồn Kẻo không lại đụng cái ... chị em. * Hội trường yên ắng ngủ say Thuyết trình vừa dứt... vỗ tay ra về. Đi trên tàu bật một que diêm Mắt lim dim nhìn lên đồi cọ Mà gật gù khen tỉnh... Phú Thọ. * Lấy anh từ thuở mười ba Anh chê em bé không nằm với em Đến năm mười tám tuổi xanh Em nằm dưới đất anh lôi lên giường Một lần thương, hai lần thương Chân giường có bốn gãy giờ cò ba. * Trên đường xe chạy bon bon Nhìn bông lúa chín hạt tròn hạt vuông (!) * Anh đi công tác Ban Mê- Thuột xong một cái lại về với Plây- Cu anh tuy có hơi gầy nhưng mà em vẫn ngày ngày đợi anh! Ai cũng có việc làm nhưng không ai làm việc. Ai cũng không làm việc nhưng ai cũng có lương. Ai cũng có lương nhưng không ai đủ sống. Ai cũng không đủ sống nhưng ai cũng sống. Ai cũng sống nhưng không ai hài lòng. Ai cũng không hài lòng nhưng ai cũng giơ tay đồng ý. do vấn đề văn hóa lên nếu tác giả một số bài trong đây có thấy bài của mình bị sửa hay cắt thì thông cảm cho em nhá tất nhiên em có sửa cùng vẫn tìm từ để điễn đạt đúng ý của bác, em chỉ cắt cái mà ko cần thiết theo quan điểm cảu em,xin cảm ơn thay đổi nội dung bởi: huyngoc, 05-09-2009 lúc 05:01 PM. |
|
#7
|
||||
|
||||
|
mục thư gian này đưoc. em xin gop 1 câu nhớ được ở đâu chẳng rõ
"sông cầu nước chảy lơ thơ có đôi trai gái ngồi hơ quần đùi". bài này hay và buon cuòi nữa: Có một ông chồng mới cưới vợ được vài tháng đã phải lên đường đi công tác xa sáu tháng mới về. Được năm tháng bà vợ ở nhà đã lâu không được gần chồng nên không chịu được mới sanh lòng bậy bạ, nhưng bà vẫn còn sợ chồng nên mới gửi cho ông chồng lá thư với nội dung như sau: Đám ruộng hai bờ ở đầu mông Lâu ngày không cấy, vẫn để không Nước non vẫn đủ, cỏ mọc tốt Nhờ người cày hộ, có được không? Ông chồng đọc xong hiểu ý, vừa tức, vừa sợ nên vội vàng viết thư trả lời liền: Đám ruộng hai bờ là của ông Cho dù không cấy, vẫn để không Mùa này không cấy, chờ mùa khác Nhờ người cày hộ, chết với ông. Đọc thư xong, bà vợ nóng lòng quá nên gửi tiếp: Ruộng để lâu ngày cỏ bỏ không Hạ đi thu đến, sắp lập đông Cỏ xanh cũng lạnh dần héo úa Thợ cày đầy dãy chẳng tính công. Ông chồng hối đáp: Biết là ruộng lâu ngày trống không Cỏ đội um tùm, nước mênh mông Nhưng mà tụi nó cày tệ lắm Kỹ thuật thua ông, có biết không? Bà vợ: Ruộng vẫn nơi này, quá mênh mông Sao chẳng gieo đi kiếm vài đồng Ông về vẫn đó, chi mà ngại Mùa ông thu hoạch, khỏi tốn công. Chồng tức quá tiếp: Này này ông nói có nghe không Ruộng ông, ông kệ cỏ chơi ngông Khi nào ông rảnh, ông gieo giống Còn không kẻ khác cấm chờ trông. Bà vợ chịu không nổi, gửi tiếp: Ông à, cỏ dại lên quá mông Dân cày quên mình cứ ở không Thôi tôi làm phước, cho họ cấy Ông về thu hoạch, thế là xong. Ông chồng càng tức giận hơn: Cỏ dại có mọc lên quá mông Thì bà vun cỏ, phải được không Ông mà biết được bà cho cấy Ông về nhổ sạch, thế là xong. Bà tiếp: Ruộng kia cỏ đã mọc đầy đồng Ông về gấp gấp có nghe không Ruộng đang thiếu nước lại khô cạn Ông về tưới hộ, tôi trả công. Chồng thấy thế liền gửi lại: Ờ thì bà ráng mà kìm lòng Bà mà léng phéng, chết với ông Ông về, ông cấy cho tơi xốp Cho thỏa bao ngày bà đợi mong. Hôm sau, chồng nhận được thư vợ như sau: "Luật mới ban hành ông biết không? Ruộng mà không cấy sẽ sung công Vậy ông thu xếp mà về sớm Kẻo mất ruộng rồi, ông trách ông"
__________________
kienmobile 0906191240 |
|
#8
|
||||
|
||||
|
"nhắc nhở ai ai nhắc nhờ thời
cơm nhà chậm được vợ nhà dạy sau việc làng ta phải làm mau không thì sẽ muộn ngày sau khó làm ." nhắc chú kiên hay trả lời anh cách pots bài nằng hình và video hiện nay anh đã kiếm được một số video và hình anh cho các em thpt qua mạng và của anh cũng như của bạn bè làm vì vậy chú chỉ gấp ko máy anh nặng quá anh HIẾU NẶNG THẤT HUYỀN mà xóa đi thì tiếc nắm (tin này đọc song nhắn anh anh sẽ xóa).mà chú để ý mục pro file thành viên chút anh em mình trao đổi dâyds chán bọn chú gần một nằm mà những chức năng này cũng chưa dùng hết khóc được! thay đổi nội dung bởi: huyngoc, 31-05-2010 lúc 04:06 PM. |
|
#9
|
||||
|
||||
|
có thấy gì không thấy gì không
để cho sờ phạm(spam) nó thong dong đêm ngày nó viết rồi nó bốt(post) không gằng thêm thì nhưng cái trước uổng công chuông chiều chưa đánh bạn thấy không ? quê ta yêu dấu sẽ không còn nữa ,bởi bọn cô hồn này được ngông hay nổi lên đi tiếng chuông chùa ấy(siêu độ , siêu độ) để ngày mai ta lại có vừng đông. |
|
#10
|
||||
|
||||
|
ngồi một mình để cho đỡ buồn mình xin kể một câu chuyện :xưa tử lộ hải thầy mình là không tử , một nhà có mừoi anh em hết chín ngừoi ko làm một ngươi làm thì người ấy là khôn hay ngu. không tử bảo không biết , tử lộ hỏi tại sao một ngừoi nhwu thầy lại ko biết . không tử chỉ cừoi ko nói quay đi.
lại có ngừoi tên là hoàn nhan là cho mà được cho là giỏi nhất của không tử lại chỗ tử lộ nói anh hỏi vậy ko trả lời được. nếu nói ở đời thì ngươi đó ngu vì không ai làm thế cả mang vạ vào thân chả được gì có khi bị ghét.nhưng nếu là trong một gia đình thì giống con châu vậy mùa cấy twois rồi chín con không cày thì con còn lại pahir làm nhiều hơn mới được việc ngày sau mới có lúa tốt cỏ thơm mà ăn chứ. huyngoc tôi ngẫm thấy thệt là.....hàaaaaaaaaaa. |
|
#11
|
||||
|
||||
|
CHÚNG TA CÙNG VĨNH BIỆT MỘT NHÀ THƠ LƠN CỦA ĐẤT NƯỚC.....
Sáu năm qua, kể từ cái đêm thơ - nhạc kỷ niệm 40 năm Đoàn 559, vì quá xúc động, Tế Hanh đã bị xuất huyết não. Từ bấy đến nay, nhà thơ chỉ còn trò chuyện với dòng sông của mình, dòng sông của đời mình, trong im lặng. Chúng tôi xin được giới thiệu cuộc trò chuyện bằng ký ức giữa hai nhà thơ cùng quê Quảng Ngãi: Thanh Thảo - Tế Hanh như một thông điệp gửi đến những người yêu mến tác giả của Nhớ con sông quê hương đang ốm nặng ở tuổi 84. "Mình thích thơ hiện đại lắm, nhưng..." Tế Hanh thời chưa đau mắt nặng ông rất mê đọc sách. Ông là một trong những nhà thơ VN đọc thơ Tây nhiều nhất.Vậy mà giọng thơ Tế Hanh vẫn rất mộc mạc, thật hồn nhiên. Và với ông, kỹ thuật thơ, dù là kỹ thuật tân kỳ, vẫn không khiến ông quan tâm bằng chính cảm xúc và sự hồn nhiên, đôn hậu. Có lần, cách đây đã hơn 20 năm, trong dịp về Quy Nhơn, ông nói với tôi: " Mình thích thơ hiện đại phương Tây, nhất là thơ hiện đại Pháp". Tôi hỏi ông thích ai trong những nhà thơ Pháp hiện đại, Tế Hanh nói: "Mình thích Aragon, nhất là những sáng tác thời kỳ sau của ông mà ở ta chưa dịch. Thơ Aragon trôi chảy như một dòng sông lớn. Mình thích Eluard. Thơ ông trong veo nhưng rất khó nắm bắt. Mình thích thơ Rene Char, một nhà thơ Pháp tham gia kháng chiến chống phátxít nhưng làm thơ u ẩn như một thiền sư phương Đông. Mình thích thơ Saint-John-Perse, thơ ông này có kiến trúc nguy nga và ào ạt như sóng trào. Mình thích Andre Breton, nhưng chỉ thích phần lý luận thơ ca của ông này, chứ không thích thơ mấy. Mình thích...". Tôi nghe như nuốt từng lời của ông. Người làm thơ vẫn thường học nhau, lớp trước truyền cho lớp sau những thu nhận và suy ngẫm, những tri thức và sự từng trải. Tôi đã học được ở Tế Hanh, Xuân Diệu, Văn Cao... rất nhiều. Uyên bác như thế, nhưng Tế Hanh làm thơ rất thật thà và hồn nhiên. Ông vẫn là ông, cho tới cuối đời. Nhớ con sông quê hương Nếu 6 năm qua, trong bệnh tật, vẫn còn một cái gì đó trong Tế Hanh, cái đó tôi nghĩ, chính là dòng sông quê hương ông. Trong lần làm phim chân dung ông năm 1997, chúng tôi đã có dịp cùng Tế Hanh về quê Bình Dương của ông: "Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới/Nước bao vây cách biển nửa ngày sông/". Hai câu thơ đã nói lên hết cái "lý lịch" của làng Đông Yên quê Tế Hanh. Trong lần về quê ấy, cũng nhờ yêu cầu của đạo diễn mà chúng tôi được cùng Tế Hanh đi thuyền trên dòng sông Trà Bồng đoạn chảy qua Bình Dương quê ông. Dạo ấy vẫn còn những chiếc cầu tre bắc ngang sông, và tôi ít thấy một dòng sông nào nước xanh trong đến thế! Chúng tôi như mê đi trong cái mát mẻ của dòng sông, của những "bờ tre ríu rít tiếng chim kêu", của những "mặt nước chập chờn con cá nhảy"... Dòng sông bỗng trở nên đẹp hơn, lung linh huyền ảo hơn kể từ khi có bài thơ Nhớ con sông quê hương của chính đứa con dòng sông ấy. Dòng sông chính là quê hương, chính là người mẹ của Tế Hanh, và ông đã để hết tâm hồn và tình cảm của mình vào bài thơ đã và sẽ sống mãi cùng dòng sông quê ông: "Tôi nhớ không nguôi ánh nắng màu vàng Tôi quên sao được sắc trời xanh biếc Tôi nhớ cả những người không quen biết Có những trưa tôi đứng dưới hàng cây Bỗng nghe dâng cả một nỗi tràn đầy Hình ảnh con sông quê mát rượi Lai láng chảy, lòng tôi như suối tưới..." Ra đi từ dòng sông và trở về với dòng sông, thơ Tế Hanh là cuộc chuyện trò thầm thỉ không dứt với con sông thân yêu của đời mình. Và chính ông cũng là một dòng sông, một dòng sông bình dị và đầy xúc cảm, một dòng sông biết chắt chiu từng gàu nước ngọt cho những người dân Việt thực thà đôn hậu và không thể sống thiếu một dòng sông. Nhà thơ như ông, thực không còn gì phải ân hận khi cuối cùng được hoá thân vào chính dòng sông thương thiết nhất đời mình: Dòng sông quê hương Theo Lao Động |
|
#12
|
||||
|
||||
|
TẾ HANH ĐƯỢC MỆNH DANH LÀ NHÀ THƠ CỦA CÁC DONG SÔNG
đây là bài con sông quê hương Quê hương tôi có con sông xanh biếc Nước gương trong soi tóc những hàng tre Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè Toả nắng xuống dòng sông ấm áp Chẳng biết nước có giữ ngày giữ tháng Giữ bao nhiêu kỷ niệm giữa dòng trôi Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ Sông của quê hương, sông của tuổi trẻ Sông của miền Nam nước Việt thân yêu Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy. Bạn bè tôi túm năm tụm bảy Bầy chim non bay lượn trên sông Tôi dang tay ôm nước vào lòng Sông mở nước ôm tôi vào dạ. Chúng tôi lớn lên mỗi người một ngả Kẻ sớm khuya chài lưới bên sông Kẻ cuốc cày mưa nắng ngoài đồng Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến. Nhưng lòng tôi như mưa nguồn gió biển Vẫn trở về lưu luyến bên sông... Tôi hôm nay sống trong lòng miền Bắc Sờ lên ngực nghe trái tim thầm nhắc. Hai tiếng thiêng liêng hai tiếng miền Nam Tôi nhớ không nguôi ánh nắng màu vàng Tôi quên sao được sắc trời xanh biếc Tôi nhớ cả những người không quen biết. Có những trưa tôi đứng dưới hàng cây Bỗng nghe dâng cả một nỗi tràn đầy Hình ảnh con sông quê mát rượi Lai láng chảy lòng tôi như suối tưới. Quê hương ơi, lòng tôi cũng như sông Tình Bắc Nam chung chảy một dòng Không ghềnh thác nào ngăn cản được Tôi sẽ đến nơi tôi hằng mong ước. Tôi sẽ về sông nước của quê hương Tôi sẽ về sông nước của tình thương _@---------@__ Nhà thơ Tế Hanh - đại biểu cuối cùng của phong trào Thơ Mới, một trong những cây bút từng làm nên một thời đại hoàng kim cho thi ca Việt Nam giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã từ giã cõi đời ở tuổi 89 vào ngày hôm qua (16/7). Nhà thơ Tế Hanh (1921 - 2009) Khởi nghiệp với những bài thơ giành giải thưởng của Tự Lực Văn Đoàn, sau Cách mạng tháng 8, nhà thơ Tế Hanh là tác giả có những vần thơ thiết tha đã đi vào lòng người với những sáng tác tiêu biểu như Quê hương, Nhớ con sông quê hương, Mặt quê hương... được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I năm 1996. Cùng với Xuân Tâm, nhà thơ Tế Hanh là hai đại diện cuối cùng của thế hệ Thi nhân Việt Nam. Ông ra đi, nhưng hồn thơ sâu nặng hình ảnh quê hương sẽ còn sống mãi trong lòng những người yêu thơ Việt Nam. "Quê hương tôi có con sông xanh biếc. Nước gương trong soi tóc những hàng tre...", những câu thơ ấy của nhà thơ Tế Hanh đã sống hơn nửa thế kỉ trong lòng nhiều thế hệ người Việt Nam. Hình ảnh con sông Trà Bồng, Quảng Ngãi quê hương ông từ bài thơ ấy đã trở thành hình ảnh khái quát cho biết bao dòng sông quê hương trên khắp đất nước. Là một trong những thi nhân Việt Nam thành công trong cả phong trào Thơ mới và sau Cách mạng tháng Tám với những bài thơ tinh tế và giàu cảm xúc, những đóng góp của Tế Hanh không chỉ được đánh dấu bằng hơn 20 tập thơ nổi tiếng như Lòng miền Nam, Tiếng sóng, Hai nửa yêu thương, Con đường và dòng sông... Căn nhà nhỏ số 10 phố Nguyễn Thượng Hiền của gia đình nhà thơ Tế Hanh còn lưu giữ nhiều bản thảo viết tay của nhà thơ. Bình dị sống, và mộc mạc làm thơ... tất cả những bạn văn, bạn thơ đã nói về Tế Hanh như thế. Ra đi từ dòng sông và trở về cùng dòng sông, thơ Tế Hanh là cuộc chuyện trò thầm thì không dứt với con sông thân yêu của đời mình. Và như thế, chuyến đi xa này dường như lại là sự trở về, để ông được hòa tan vào con sông quê như ước mơ ông hằng ấp ủ. Tôi sẽ lại nơi tôi hằng mơ ước Tôi sẽ về sông nước của quê hương Tôi sẽ về sông nước của tình thương. |
|
#13
|
||||
|
||||
|
Chùm thơ Haiku đoạt giải thưởng
Nhiều tác giả Những chiếc lá vàng Xoay tròn điệu valse Nhạc gió. 1. Con cá thở Bọt bóng vỡ Mưa phùn 2. Đóa hướng dương Nhú trong vườn cỏ Ngày không mặt trời. (Nguyễn Thế Thọ - Đà Nẵng) 1. Cúc áo bung ra Một cõi trắng ngần Hạ đến. 2. Bé gái Nhặt mảnh chai Mơ chiếc hài cô tấm. (Trần Đức Việt - Bình Định) Trên đầu ngọn cây Khoảng trống nơi cành khô gãy Một mảnh trăng lấp đầy. (Phan Thị Kiều Trang - TP HCM) Hai nửa vầng trăng Chơi vơi đầu ngọn sóng Trong cuộc kiếm tìm nhau. (Trần Thị Bích Liên - TP HCM) Những chiếc lá vàng Xoay tròn điệu valse Nhạc gió. (Vũ Tam Huề - TP HCM) Vượt lên từ biển mây Fuji nâng mặt trời đỏ rực Gửi trái chín tặng đời. (Nguyễn Bảo - Hà Nội) Thời gian Mắt thuyền không khép Bến sông xưa ngược chèo. ---------------------------------------------- Theo mình biết thì Haiku là một dòng thơ có xuất xứ từ Nhật Bản. Người nổi danh nhất là thi sĩ Ba-sô. Ba-so sống cách chúng ta vài trăm năm. Bút danh này có nghĩa là cây chuối, vì ông rất thích loài cây này (tiếng Hán là Ba tiêu). Trước đó ông còn có bút danh là Tô - sây có nghĩa là Đào xanh (để tỏ lòng tôn kính với nhà thơ TQ Lý Bạch - Mận Trắng). Baso nổi tiếng là một ẩn sĩ lập dị, trong các câu chuyện về ông có một chuyện rất thú vị là ông sửa một bài thơ cho một võ tướng - đã về hưu và rất thích ngâm và làm thơ: Quả ớt Thêm hai cánh Con chuồn chuồn (Võ tướng) Con chuồn chuồn Bỏ hai cánh Quả ớt (Baso) Nói chung thể loại thơ Haiku rất kén người đọc và để cảm nhận nó là điều không hề đơn giản! ----------------------------------------------- hê hôm nay mới biết có người cũng thích thơ hai củ giống mình ha ha! xin góp luôn một bài hen: ( hoa mai lở muộn , vân là mai.trên đường về thăm quê huqoqng xưa , ruồi muồi hình như ko biết người thân hay lạ). cai gì cai này thì em nhiều nắm cả tự sáng tác cả sưu tầm ( đây là thú chơi cchuwx của người nhật hay nắm à!) ----------------------------- ĐÂY LÀ MỘT DÒNG THƠ THIỀN KHÁ HAY CÁC BÁC ĐỌC NHÉ! |
|
#14
|
||||
|
||||
|
chùm thơ về hà nội
Biết ơn Vua Lý Xin biết ơn Ngài Lý Công Uẩn Có tầm nhìn xa thật là xa Đã chọn nơi đóng đô rất chuẩn Tuyệt vời thay yên ổn mọi nhà Những vùng khác triền miên lụt bão Năm tiếp năm ít thuận lòng người Tinh thời tiết mỗi ngày Đài báo Ngóng bốn phương đau đáu khôn nguôi Càng biết ơn Ngài Lý Công Uẩn Đã dựng nên cơ nghiệp Thủ đô Cả nghìn năm cho ta suy ngẫm Về tầm nhìn xuyên nắng xuyên mưa Không gian này ngày càng hoàn thiện Được lòng người, được cả thiên nhiên Thời gian trôi ít khi tai biến Càng thường người ở khắp mọi miền Vinh dự được làm dân Hà Nội Chốn đất lành chim tụ về đây Vượng khí xưa nhân đôi tươi rói Tình bốn phương đẹp dáng rồng bay./. _____________ Hương Tây Hồ Cùng em đến phủ Tây Hồ Ngắm Sâm Cầm Giữa mịt mù khói sương Lâu rồi mới thấy trăng non Ráng chiều thơ mộng cho hồn lâng lâng Hết tầm xa lại tầm gần Một vùng huyền thoại dần dần hiện lên Vòm trời như cũng trẻ thêm Gương hồ long lánh như hiền hòa hơn Gió đưa thoang thoảng mùi thơm Của hoa của lá hay hương của người…./. _____________ Nhạc hồng hồ Gươm Nửa lời và nửa nụ cười Em trao tôi dưới khung trời hồ Gươm. Gió vờn Con sóng cũng vờn Tim dồn nhịp để tâm hồn lâng lâng. Nốt nhạc xanh cứ xa dần Mà dư âm ngọt theo chân ta về Một chùm kỷ niệm sương khuya Dẫu chưa nói hết vẫn nghe nhạc hồng!./. _____________ 36 phố phường 36 dây xuân Ai sinh ra đàn Tam Thập Lục Mà có Ba mươi sáu dây tơ Để ta vận vào với Thủ đô Ba mươi sáu phố phường quen thuộc! Cứ mỗi dây đàn Tam Thập Lục Ứng với mỗi phố của Hà thành Từng cung trầm, cung bổng, cung thanh Ngân mãi lên thành trăm tên phố! Đã đi qua những ngày gian khổ Vết chiến tranh loang lổ phố phường Càng quý hơn tình nghĩa bốn phương Cùng Hà Nội và vì Hà Nội! 36 dây là nguồn là cội Từ âm buồn đến khúc ca vui Qua đắng cay mới có ngọt bùi Cung bậc mới và con người mới! Tiếng đàn xuân như mời như gọi Tiếng đàn xuân đáp nghĩa đền ơn Tiếng đàn xuân đón bạn bốn phương Tiếng đàn xuân mừng ngàn năm tuổi!./. Dân Huyền |
|
#15
|
||||
|
||||
|
trả biết bài của mình có được mong đợi không nhưng đây là một trong nhưng người tui phục nhất đó:HỌA SỸ LÊ THIẾT CƯƠNG
"Đàn bà là âm, là nhu, mềm, là ở trong, ở dưới, là tĩnh. Tất cả những người đàn ông chân chính đều cần những phẩm chất đó của người đàn bà" - hoạ sỹ Lê Thiết Cương. Tôi không galăng nên ít đàn bà thích - Là một họa sỹ vẽ về đàn bà rất nhiều, anh có dám nhận mình là người hiểu đàn bà không? - Với tôi, vẽ về ai, đàn bà, đàn ông, nhà cửa, núi non, sông biển tất cả đều chỉ là đề tài mà thôi. Xử lý đề tài đó như thế nào, hay nói cách khác là cách vẽ mới là cốt tử. Nếu giả sử tôi nhờ một cô hoa hậu, á hậu nào đó làm mẫu thì dứt khoát cô ấy cũng chỉ là "đề", không hơn không kém. Tôi sẽ "bịa tạc" thêm thêm bớt bớt vào theo cách của mình. Vì cuối cùng, cái mà tôi cần là một bức tranh đẹp, chứ không phải là một cô gái đẹp ở trong tranh. Đàn bà chẳng khó hiểu lắm nhưng tôi cũng chẳng cố hiểu đàn bà làm gì. - Anh có thể đưa ra một định nghĩa riêng của Lê Thiết Cương về đàn bà? - Đàn bà là âm, là nhu, mềm, là ở trong, ở dưới, là tĩnh. Tất cả những người đàn ông chân chính đều cần những phẩm chất đó của người đàn bà. Còn những người không đàn ông lắm thì thể nào cũng thích những người đàn bà có phẩm chất ngược lại. - Có nhiều đàn bà yêu anh không? - Thực tế thì không nhiều vì tôi là người không biết nói chuyện, không biết tán tỉnh, không galăng, hơi khó tính, lạnh nhạt và cả khô khan nữa. Tôi là người sợ vợ vừa phải - Trong mắt Lê Thiết Cương, thế nào là một người đàn bà đẹp? - Tôi thích vẻ đẹp của Á Đông, na ná như thể của mấy cô thị giả trong chùa, vẻ đẹp quê quê, mộc mạc. - Anh thường lựa chọn những người đàn bà như thế nào để làm mẫu cho tranh vẽ của mình? - Có một điểm gì đó ví dụ như trán ngắn, mắt một mí hay cổ cao... - Khi đứng trước một người đàn bà khỏa thân là nguyên mẫu điều đầu tiên anh cảm nhận được là gì? - Là thèm muốn. Rồi sau đó là mới đến muốn vẽ. Nhục cảm sẽ tạo ra mỹ cảm. - Anh nói gì về lần đổ vỡ trong hôn nhân của mình? - Đó là một trải nghiệm sống đáng quý vì không sống thì vẽ sao được. Ở một cách hiểu khác thì đổ vỡ trong hôn nhân là bệnh ung thư, muốn chả được mà không muốn cũng chả được. - Vợ anh bây giờ có phải là người đàn bà "ám ảnh" nhất đời anh không? - Vợ chồng là yêu thương, là thói quen, là nhiều thứ nữa chứ không phải là ám ảnh. Còn tôi luôn tự tưởng tượng ra một người đàn bà để ám ảnh: hiền dịu, xinh đẹp, vui vẻ, lười biếng, không biết nhiều thứ quá, chiều chuộng, giản dị, dễ tính, v.v... - Anh có bao giờ "sợ" vợ không, dù chỉ là trong một vài khoảnh khắc? - Tôi là người sợ vợ vừa phải. Tôi hay tin vào một điều chưa chắc đã đúng, nếu vợ sợ chồng thì sẽ khó có hoà thuận. Nói đến đàn bà là nghĩ đến sex - Khi nghe đến hai từ "đàn bà" thì anh nghĩ đến điều gì đầu tiên? - Đến sex, cuộc sống cũng như văn chương nghệ thuật từ xưa đến nay chỉ loanh quanh chuyện đàn ông, đàn bà thôi mà! - Có bao giờ anh đưa hình ảnh những người đàn bà trong cuộc đời thực như vợ, người yêu… vào tranh khỏa thân của mình không? - Có chứ, nhưng kiểu của tôi là tối thiểu chứ không vẽ tả thực nên mọi người không nhận ra thôi. Nguồn: giadinh.net |
![]() |
| Bookmarks |
| Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách) | |
| Ðiều Chỉnh | |
| Xếp Bài | |
|
|