DIỄN ĐÀN VÀNG BẠC CHÂU KHÊ  

Trở lại   DIỄN ĐÀN VÀNG BẠC CHÂU KHÊ > Người dân Châu Khê > CLB dành cho anh em

CLB dành cho anh em Trung Kiên xin mời các bạn cùng tham gia diễn đàn dành riêng cho anh em

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #31  
Cũ 19-07-2010, 09:36 PM
huyngoc's Avatar
huyngoc huyngoc đã thoát
Nghệ nhân
 
Tham gia ngày: Jul 2009
Đến từ: dày đây mai đó đã từng
Bài gửi: 637
Thanks: 67
Thanked 39 Times in 35 Posts
Mặc định Ðề: mục thơ văn , và suy ngẫm

Mười điều vợ dặn không sai một điều.


- Thứ nhất không được nhậu nhiều
Đúng năm rưỡi chiều là phải... hồi gia.

- Thứ hai không được lân la
Mấy nơi thư giãn mát-xa mát gần.

- Thứ ba cứ mỗi cuối tuần
Chở vợ đi sắm áo quần thời trang.

- Thứ tư tiền thưởng tiền lương
Lãnh về nộp đủ vợ thương nhất đời.

- Thứ năm vợ có lắm lời
Cũng phải vui vẻ mà ngồi lắng nghe.

- Thứ sáu tiền định đổi xe
Sắm vàng cho vợ đeo khoe xóm giềng.

- Thứ bảy là phải thật siêng
Giúp vợ chợ búa nấu ăn giặt đồ.

- Thứ tám không được có bồ
Không được tơ tưởng mấy cô chân dài.

- Thứ chín không được bạc bài
Không chơi đề đóm có ngày... tan gia.

- Thứ mười không được bê tha
Việc nước chu tất, việc nhà...“đảm đang”

Mười điều vợ dặn rõ ràng
Nhớ thực hiện, kẻo lỡ làng đời trai...

-> đứa bạn mình gửi cho , đưa lên anh em đọc cho vui , khi nào rảnh xin vịnh lại đủ mười điều này , nói thật chắc mình dính gần hết cho lên không thể không bào chữa giúp những anh em chung chí hướng được!
__________________
sống trên đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không?.....
để.. buốt... trái... tim.....
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #32  
Cũ 23-07-2010, 07:45 AM
Kẹo Cô Nương's Avatar
Kẹo Cô Nương Kẹo Cô Nương đã thoát
Quản Trị Viên
 
Tham gia ngày: Dec 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài gửi: 52
Thanks: 0
Thanked 9 Times in 8 Posts
Gửi tin nhắn qua Yahoo! tới Kẹo Cô Nương
Mặc định Ðề: mục thơ văn , và suy ngẫm

Huyngoc có vẻ chuẩn bị kỹ càng kiến thức gớm nhểy. Quả này, ai VỚ được là do tu tích từ mấy kiếp rồi í chứ nị )
__________________
Kẹo Cô Nương
------------------------------------
Giấc mơ con ĐÈ NÁT BÉT cuộc đời con
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #33  
Cũ 23-07-2010, 09:25 AM
huyngoc's Avatar
huyngoc huyngoc đã thoát
Nghệ nhân
 
Tham gia ngày: Jul 2009
Đến từ: dày đây mai đó đã từng
Bài gửi: 637
Thanks: 67
Thanked 39 Times in 35 Posts
Mặc định Ðề: mục thơ văn , và suy ngẫm

Trích:
Nguyên văn bởi Kẹo Cô Nương Xem bài viết
Huyngoc có vẻ chuẩn bị kỹ càng kiến thức gớm nhểy. Quả này, ai VỚ được là do tu tích từ mấy kiếp rồi í chứ nị )
thực ra những người có sở học cao siêu thường ít nói và ít dùng từ khó nhưng huyngoc tôi là do cái tính đã thế từ bé "nan y khó chữa", tuy không biết nhiều nhưng tính thích chưng diện với đời lên chường mặt ra giữa thiên hạ , cũng mong " mua vui cho đủ một vai chống canh, với đời thôi"
chuyện là phúc hay họa thì khó nói"là phuc thì không phải là họa , là họa thì làm sao mà tránh được"
__________________
sống trên đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không?.....
để.. buốt... trái... tim.....
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #34  
Cũ 29-07-2010, 07:28 PM
huyngoc's Avatar
huyngoc huyngoc đã thoát
Nghệ nhân
 
Tham gia ngày: Jul 2009
Đến từ: dày đây mai đó đã từng
Bài gửi: 637
Thanks: 67
Thanked 39 Times in 35 Posts
Mặc định Ðề: mục thơ văn , và suy ngẫm

Lễ vinh danh tác giả “Tướng về hưu” sẽ diễn ra vào 9/7 tại Tòa đại sứ Pháp. Đây là sự ghi nhận của chính phủ Pháp cho những đóng góp của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đối với hoạt động quảng bá văn hóa trong khuôn khổ khối Pháp ngữ.

Ông là người có công lớn trong việc quảng bá văn học và văn hoá Việt Nam tại Pháp và trong khuôn khổ cộng đồng Pháp ngữ. Năm 1990, bản dịch Tướng về hưu được xuất bản tại Pháp, sau đó là: Trái tim hổ, Sói trả thù, Chuyện tình kể trong đêm mưa, Vàng lửa, Suối nhỏ êm dịu… Nhờ đó mà công chúng nước này có điều kiện khám phá nền văn học đương đại, đất nước, con người và những giá trị văn hoá truyền thống nhân văn sâu sắc của Việt Nam.

Nguyễn Huy Thiệp sinh ngày 29/4/1950 ở ngoại thành Hà Nội và sống phần lớn quãng đời tuổi thơ tại nông thôn Việt Nam. Vào những năm 1970, trong thời gian làm ông giáo tại vùng núi Tây Bắc, nhà văn đã viết về cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số. Nhưng tên tuổi Nguyễn Huy Thiệp chỉ thực sự trở thành “hiện tượng” văn đàn Việt Nam bắt đầu từ sự phát hiện của nhà văn Nguyên Ngọc và nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến.

Cuối những năm 1980, khi truyện ngắn Tướng về hưu của ông được xuất bản, tác phẩm đã gây tiếng vang lớn, kéo theo nhiều cuộc tọa đàm, tranh cãi và đến nay vẫn được coi là một trong những sáng tác lớn mở đầu cho văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới.
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp.

Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn truyện ngắn bậc thày và dường như chỉ thành công ở thể loại này. Ông có viết tiểu thuyết nhưng không tạo được sự chú ý của dư luận. Nhưng với hơn 50 truyện ngắn, 10 vở kịch, bốn tiểu thuyết và nhiều bút ký và phê bình văn học, Nguyễn Huy Thiệp vẫn là một tác giả quan trọng trong nền văn học Việt Nam đương đại.

Tuy không có duyên với các giải thưởng văn học trong nước, nhưng Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn VN có tác phẩm được dịch ra nhiều ngôn ngữ nhất. Truyện ngắn của ông đã được dịch sang tiếng Pháp, Anh, Italy, Thụy Điển, Đan Mạch, Hà Lan, Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản và Indonesia.

Huân chương Văn học Nghệ thuật mà Chính phủ Pháp trao cho ông được Tướng De Gaulle đề xướng năm 1957. Năm 2006, cố đạo diễn Lê Mạnh Thích, nhà tạo mẫu Minh Hạnh và biên đạo múa Nguyễn Công Nhạc là những người đã được nhận vinh dự này.
__________________
sống trên đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không?.....
để.. buốt... trái... tim.....
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #35  
Cũ 30-07-2010, 10:41 AM
huyngoc's Avatar
huyngoc huyngoc đã thoát
Nghệ nhân
 
Tham gia ngày: Jul 2009
Đến từ: dày đây mai đó đã từng
Bài gửi: 637
Thanks: 67
Thanked 39 Times in 35 Posts
Mặc định Ðề: mục thơ văn , và suy ngẫm

NGUYỄN BÍNH
NHÀ THƠ CỦA HƯƠNG ĐỒNG CỎ NỘI


Từ thuở nhỏ không ai trong thế hệ 50-60 chúng ta không chịu ít nhiều ảnh hưởng qua những trang sách giáo khoa bậc tiểu học ở quê nhà, trường học đôi khi còn ở trong các ngôi đền, dưới mái chùa hoặc đình làng đầy không khí chiến tranh vây bủa. Cái thời mà câu chuyện về một ông nhà quê cặp dù đi chu du khắp thiên hạ, trở về không phải nhắc đến những kỳ quan như tượng thần Tự Do, những nhà chọc trời ở Nữu Ước, chiếc cầu Golden Gate vĩ đại ở San Francisco, hay tháp Eiffel ở Paris, tháp chuông Big Ben, Tower Bridge ở Luân Đôn, Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc, ngôi nhà vòng cầu ở Úc Đại Lợi, Ngọn Phú Sĩ Sơn ở Xứ Hoa Anh Đào...mà chỉ đứng ngẩn ngơ nhìn cây đa đầu làng rợp bóng mát trưa hè, hàng dừa nghiêng ngả soi trên giòng sông trăng, những cánh đồng lúa vàng bát ngát thẳng tắp những cánh cò bay, những cô lái chèo khua tiếng hát bay vút lên đỉnh trời...có phải quê hương mình mới là kỳ quan tuyệt diệu nhất?

Khi viên ngọc quý không còn trong tầm tay mới đích thực là viên ngọc quý. Khi chúng ta xa rời quê hương yêu dấu chúng ta mới cảm thấy những tình tự non nước chôn nhau cắt rún mới là miền đất đầy thiêng liêng lôi cuốn nhất, vì nơi chốn đã chứa chan tình cảm trong tâm hồn chúng ta từ khi tiếng khóc chào đời, nằm êm ả trong chiếc nôi đầy lời ca dao ngọt lịm của mẹ, ru sớm chiều đều đặn tháng năm. Và chính những giây phút tận cùng nhớ thương đó chúng ta mới khám phá trong thế giới thơ NGUYỄN BÍNH là cả bầu trời quê hương đầy kỷ niệm.

Thơ của Nguyễn Bính mang bản chất những giòng ca dao trữ tình đôn hậu. Nhẹ nhàng nhưng chan chứa tình cảm đích thực hiền hòa của đôi trai gái đồng quê yêu nhau. Trong thơ Nguyễn Bính chúng ta không cảm thấy ngôn từ phù thủy điệu nghệ bóng bẩy văn hoa của thị thành. Đã từ lâu nhiều nhận xét trên thi đàn văn học qua bộ môn thi ca tiền chiến, hầu như mọi người đều đồng ý cho rằng Thơ Nguyễn Bính gần gũi với dân chúng nhất, biểu lộ được tính chất sinh hoạt đơn giản hàng ngày, những phong tục bình dân, những sắc thái phong cảnh mộc mạc của làng xóm, những cảm nghĩ chơn chất như giọt sương trên cành lá sớm mai, như tiếng chim hót trên hàng tre ban trưa và làn khói lam thổi cơm buổi chiều...

Đi vào thế giới thơ Nguyễn Bính, chúng ta có thể nhận chia những vùng ảnh hưởng tình cảm khác nhau: Tình quê hương, tình bằng hữu, tình yêu và cuộc sống trôi nổi giang hồ. Có lẽ tính chất quá ủy mị ướt át tình tứ qua lối diễn đạt những ngôn từ xuất phát từ nhân gian, nên thơ Nguyễn Bính không được giới trí thức yêu thích. Tuy nhiên, phải công nhận thơ Nguyễn Bính đi sâu vào quần chúng lâu dài nhất. Đặc biệt về tình yêu thật sự, thơ Nguyễn Bính đã chiếm lĩnh ngọn đỉnh tuyệt vời trong thi đàn Việt Nam qua nhiều thế hệ. Những câu thơ mà chính thi bá Vũ Hoàng Chương, hồi sinh tiền, phải công nhận là “tuyệt cú”:

...Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người
Nắng mưa là bệnh của trời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng...

...Nhà em có một giàn trầu
Nhà anh có một hàng cau liên phòng
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào?

Tình yêu ở Nguyễn Bính là thứ tình yêu đôn hậu mộc mạc như con bướm lượn vu vơ trong khu vườn em hiền hòa. Không có những bộc lộ sỗ sàng, không có những tỏ tình bén nhạy qua những giây phút đầu tiên, quá tự nhiên như kiểu tình yêu Tây Phương trong thơ Xuân Diệu, Huy Cận... Ngay người con gái bên hàng xóm xinh đẹp duyên dáng... nhưng Nguyễn Bính cũng không bao giờ dám lên tiếng thăm hỏi làm quen... cho đến một ngày kia, nàng từ giã cõi đời mới làm thơ than khóc khổ đau:

...Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn
Hai người sống giữa cô đơn
Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi
Giá đừng có giậu mồng tơi
Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng
Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng
Có con bướm trắng thường sang bên này
Bướm ơi! Bướm hãy vào đây
Cho tôi hỏi nhỏ câu này chút thôi
Chẳng bao giờ thấy nàng cười
Nàng hong tơ ướt ra ngoài mái hiên
Mắt nàng say đắm trông lên
Con bươm bướm trắng về bên ấy rồi!
...Bên hiên đã vắng bóng nàng
Rưng rưng tôi gục xuống bàn rưng rưng
Nhớ con bướm trắng lạ lùng...

Thơ Nguyễn Bính không cầu kỳ chải chuốt mật ngọt để tán tỉnh người yêu, ngay cả chuyện ghen của người đàn ông là cái yếu điểm không nên bộc lộ cho phái nữ biết, vì dù sao cũng là đấng “Trượng phu ngang dọc giữa trời đất”. Hơn bảy mươi năm trước, một anh chàng nhà quê cục mịch mà có lối ghen như Nguyễn Bính thì cũng thực lạ:

...Cô nhân tình bé của tôi ơi
Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cười
Những lúc có tôi và mắt chỉ
Nhìn tôi những lúc tôi xa xôi

Tôi muốn cô đừng nghĩ đến ai
Đừng hôn, dù thấy đóa hoa tươi
Đừng ôm gối chiếc đêm nay ngủ
Đừng tắm chiều nay bể lắm người

Tôi muốn mùi thơm của nước hoa
Mà cô thường xức chẳng bay xa
Chẳng làm ngây ngất người qua lại
Dẫu chỉ qua đường khách lại qua

Tôi muốn những đêm đông giá lạnh
Chiêm bao đừng lẩn khuất bên cô
Bằng không tôi muốn cô đừng gặp
Một kẻ trai nào trong giấc mơ

Tôi muốn làn hơi cô thở nhẹ
Đừng làm ẩm áo khách chưa quen
Chân cô in vết trên đường bụi
Chẳng bước chân nào được dẫm lên

Nghĩa là ghen qua đấy mà thôi
Thế nghĩa là yêu quá mất rồi
Và nghĩa là cô là tất cả
Cô là tất cả của riêng tôi...

Bảo yêu là yêu. Bảo ghen là nói ra cho hết ý nghĩ yêu thương trong lòng mình rất thực thà. Trong Thi Nhân Việt Nam, Hoài Chân Hoài Thanh đã có những nhận xét về Nguyễn Bính... “Những tư tưởng ta hấp thụ ở học đường cám dỗ ta, những cái phiền phức của cuộc đời mới lôi cuốn ta, nên ở mỗi chúng ta, người nhà quê kia vốn khiêm tốn và hiền lành ít có dịp xuất đầu lộ diện. Đến nỗi ta tưởng chừng như đã chết rồi. Ở Nguyễn Bínhthì không. Người nhà quê của Nguyễn Bính vẫn hiên ngang sống như thường. Tôi muốn nói Nguyễn Bính giữ được bản chất nhà quê, rất dễ thương và đã đánh thức con người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng mỗi chúng ta...”

Cho đến bây giờ, chúng ta tìm đâu những hình ảnh thẹn thùng ngớ ngẩn của đôi trai gái thuở ban đầu làm quen nhau ở một đầu thôn chiều vắng:

...Hỡi cô con gái hái mơ già
Cô chửa về ư đường còn xa
Và bóng tà dương dần sắp tắt
Hay cô ở lại về cùng ta...

Một giấc mơ thật êm ả nhưng đầy hạnh phúc giữa hai người...Trong một mái nhà tranh, lấy trúc thưa làm cổng...lấy tơ liễu làm mành...

...Cầm tay, anh khẽ nói:
Khóc lóc mà làm chi
Hôn nhau một lần cuối
Em về đi, anh đi

Rồi một hai ba năm
Danh thành anh trở lại
Với em, anh chăn tằm
Với em, anh dệt vải

Ta sẽ là vợ chồng
Sẽ yêu nhau mãi mãi
Sẽ se sợi chỉ hồng
Sẽ hát ca ân ái

Anh và em sẽ sống
Trong một mái nhà tranh
Lấy trúc thưa làm cổng
Lấy tơ liễu làm mành...

Cái thời yêu đương của Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Huy Cận, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Lưu Trọng Lư, Thái Can, Thế Lữ...thật sung sướng hạnh phúc vô cùng. Giữa đời sống chạy theo cơm áo vội vã trong guồng máy thực dụng ở hải ngoại, dễ tìm đâu những giây phút êm ả hoàn toàn không lo âu, để mà yêu nhau như kiểu “Thoi Tơ” của Nguyễn Bính thì lý thú biết chừng nào:

Em lo gì trời gió
Em sợ gì trời mưa
Em buồn gì mùa hạ
Em tiếc gì mùa thu?

Em cứ yêu đời đi
Yêu đời như thuở nhỏ
Rồi để anh làm thơ
Và để em dệt lụa

Thơ làm xong anh đọc
Bên anh em lắng nghe
Và để lòng anh thổn thức
Theo vần âu yếm kia

Mộng đẹp theo ngày tháng
Đi êm đềm như thơ
Khác nào trên khung cửi
Qua lại chiếc thoi tơ...



Ở cái thế giới thi sĩ giang hồ lãng tử khác, Nguyễn Bính cũng đã lưu lại nhiều bài thơ hay qua những cảnh trí khi thi sĩ có dịp ghé thăm như ở Huế, rồi trôi nổi miền Nam, xuống tận Hà Tiên vui chơi cùng thi sĩ Đông Hồ và Mộng Tuyết. Và ở Kiên Giang, cùng với Hà Huy Hà dựng Lều Thơ, nhốt mình trong cổ mộ, chỉ dán bốn câu thơ lên hàng cột:

...Từ độ về đây sống rất nghèo
Bạn bè chỉ có gió trăng theo
Những thằng bất nghĩa xin đừng đến
Hãy để thềm ta xanh sắc rêu...

Có lúc buồn qúa, Nguyễn Bính lại bỏ lên Saigon sống lang thang như một kẻ vô gia cư thật thảm đạm:

...Một buổi sớm mai đến Saigon
Thân em chẳng khác con chim non
Bơ vơ trong xứ người xa lạ
Rợn những phồn hoa, em chạnh buồn

...Quán trọ nhà thơ như chiêm bao
Khi thì chợ Quán khi Đa Kao
Hiện nay sống tạm bên Cầu Muối
Rồi biết mai kia ở chốn nào?

Theo bước chân ngàn dặm phiêu linh, Nguyễn Bính đến thăm xứ mơ mộng Núi Ngự Sông Hương. Tại đây, Nguyễn Bính đã sáng tác bài thơ Xuân Tha Hương:

...Vườn nhà Tết đến hoa còn nở?
Chị gửi cho em một cánh hồng
(Tha hương chẳng gặp người tri kỷ
Một cánh hoa tươi đỡ lạnh lòng...)

Không hiểu vì sao hai đứa lại
Chung lưng làm một chuyến đi đày
Mai đây bỏ Huế rồi quên Huế?
Quên được làm sao bữa rượu này

Đến miền đất Thần Kinh thơ mộng, đáng lý, Nguyễn Bính phải ca ngợi Huế như bao thi nhân tài tử đã đến Huế ngắm trăng và thả thuyền lênh đênh trên sông Hương. Nhưng không may cho thi sĩ đến Huế vào những ngày mùa đông mưa gió lê thê sầu não nuột. Cái mưa xứ Huế thôi thì buồn đứt ruột đứt gan, nhất là những viễn khách tha hương.

Chính trong thời gian phiêu bạt ở phương Nam, sống cuộc đời lận đận giang hồ, ngay cả đến tình yêu cũng không còn được nhắc nhở trong những giòng thơ đầy cay đắng mỉa mai cuộc đời, tỏa lên hơi thở khinh bạc chất chứa trong những sáng tác như Thư Cho Chị, Thư Gởi Thầy Me, Một Trời Quan Tái, đặc biệt ở bài Hành Phương Nam:

Đôi ta lưu lạc phương Nam nầy
Trải mấy mùa qua, én nhạn bay
Xuân đến khắp trời hoa rượu nở
Mà ta với người buồn vậy thay...

Lòng đắng sá gì muôn hớp rượu
Mà không uống cạn mà không say
Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã
Mà áo khinh cừu không ai may..

...Kinh Kha giữa chợ sầu nghiêng chén
Ai kẻ dâng vàng kẻ biếu tay
Mơ gì Ất Tiết thiên văn tự
Giầy cỏ gươm cùn ta đi đây...

Người đi rồi nhưng tiếng thở dài chất chứa niềm hoài cảm nhớ cố hương như còn quyện trong không gian buồn thảm. Cuối cùng, Nguyễn Bính đã trở về nơi chốn khởi điểm của cuộc hành trình ngày xưa.
__________________
sống trên đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không?.....
để.. buốt... trái... tim.....
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #36  
Cũ 02-08-2010, 02:30 PM
huyngoc's Avatar
huyngoc huyngoc đã thoát
Nghệ nhân
 
Tham gia ngày: Jul 2009
Đến từ: dày đây mai đó đã từng
Bài gửi: 637
Thanks: 67
Thanked 39 Times in 35 Posts
Mặc định Ðề: mục thơ văn , và suy ngẫm

Trích:
Nguyên văn bởi huyngoc Xem bài viết
Mười điều vợ dặn không sai một điều.


- Thứ nhất không được nhậu nhiều
Đúng năm rưỡi chiều là phải... hồi gia.

- Thứ hai không được lân la
Mấy nơi thư giãn mát-xa mát gần.

- Thứ ba cứ mỗi cuối tuần
Chở vợ đi sắm áo quần thời trang.

- Thứ tư tiền thưởng tiền lương
Lãnh về nộp đủ vợ thương nhất đời.

- Thứ năm vợ có lắm lời
Cũng phải vui vẻ mà ngồi lắng nghe.

- Thứ sáu tiền định đổi xe
Sắm vàng cho vợ đeo khoe xóm giềng.

- Thứ bảy là phải thật siêng
Giúp vợ chợ búa nấu ăn giặt đồ.

- Thứ tám không được có bồ
Không được tơ tưởng mấy cô chân dài.

- Thứ chín không được bạc bài
Không chơi đề đóm có ngày... tan gia.

- Thứ mười không được bê tha
Việc nước chu tất, việc nhà...“đảm đang”

Mười điều vợ dặn rõ ràng
Nhớ thực hiện, kẻo lỡ làng đời trai...

-> đứa bạn mình gửi cho , đưa lên anh em đọc cho vui , khi nào rảnh xin vịnh lại đủ mười điều này , nói thật chắc mình dính gần hết cho lên không thể không bào chữa giúp những anh em chung chí hướng được!
BÀI NÀY COPPY KO TÍNH VÀO NỢ!
Nghe vẻ nghe ve
Nghe vè con gái
Suốt ngày lải nhải
Liên khúc tình yêu
Để rồi chiều chiều
Tụ năm,tụ bảy
Anh này hết xảy
Anh kia dễ thương

Nghe vẻ nghe ve
Tiếp vè con gái
Tự nhận xinh gái
Suốt ngày Phấn son
lưỡi thì bon bon
cái mồm ko nghỉ
Những cô xấu xí
Vẫn nhận là xinh
Người to chình ình
vẫn cho...Eo đẹp
Người mà dẹp lép
Lại bảo Giữ eo
Bảo đi vớt bèo
Thì kêu đau cổ
Bảo đi nhổ cỏ
Thì bảo đau tay
Đi chơi suốt ngày
Làm gì biết mệt !
Óc thì đặc sệt
Vẫn nhận thông minh
Qua 5 mối tình
Vẫn cho là ít
Người như quả mít
Quà vặt ko tha
Quen ngồi la cà
Hàng này quán nọ
Ăn nhiều to sọ
Được ích gì đâu
Nói lắm đau đầu
Ko thèm nói nữa !!!
__________________
sống trên đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không?.....
để.. buốt... trái... tim.....
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #37  
Cũ 02-08-2010, 04:14 PM
huyngoc's Avatar
huyngoc huyngoc đã thoát
Nghệ nhân
 
Tham gia ngày: Jul 2009
Đến từ: dày đây mai đó đã từng
Bài gửi: 637
Thanks: 67
Thanked 39 Times in 35 Posts
Mặc định Ðề: mục thơ văn , và suy ngẫm

“Hoa chanh nở giữa vườn chanh
Thầy u mình với chúng mình chân quê” - Nguyễn Bính

"Chuyện ấy" trong dân gian quả là đã "xưa như trái đất". Nhưng lạ thay, chuyện ấy lúc nào cũng vẫn cứ tươi mới và hấp dẫn như trái cấm trong vườn địa đàng vậy.

Ước gì anh có được nàng/ Ước gì ta với tay sang với mình/ Chỉ vì cái tỉnh tình tinh/ Mà sao đổ quán xiêu đình như chơi… Nói về chuyện đó để ai cũng hiểu mà ai cũng không đỏ mặt vì ngượng? Tưởng dễ mà chẳng dễ lắm đâu.

Bắt đầu từ một câu ca dao

Người xinh cái ấy cũng xinh/ Người giòn cái tỉnh tình tinh cũng giòn. Các nhà văn, các nhà folklore học, các nhà ngôn ngữ học,… từng mất bao công lặn lội truy nguyên mà vẫn tìm chưa ra xuất xứ cái từ tỉnh tình tinh kia nó ở đâu đến. “Nó” là gì thì chả cần nói người ta cũng hình dung ra (mà hình dung rõ mồn một). Nhưng gọi tên “sở chỉ” đó bằng một từ láy vần ba âm tiết tỉnh tình tinh, nghe cứ “tỉnh queo”, lại ngồ ngộ thế này thì tài thật. Tài đến thế là cùng!

Ngôn ngữ nào trên thế giới cũng đều có một kho các từ tục. Con người ta muốn tồn tại thì phải ăn, phải ngủ, phải làm những việc để duy trì nòi giống. Đó là những nhu cầu bản năng và với con người, việc thực thi cái bản năng đó vừa là nhu cầu sinh lí tự nhiên vừa là một hành vi văn hoá. Bởi những gì thuộc về lẽ đời thì có gì xấu đâu. Cái đáng nói là ta phải có hành vi ứng xử sao cho phải lẽ. Chà, nghĩ lại ta thấy cái tỉnh tình tinh kia hấp dẫn thật, hấp dẫn quá, Đến tan cả đất trời/ Cũng không thôi dào dạt (Xuân Diệu). Thì ta cứ nói. Vấn đề là nói sao cho đúng, cho lọt tai, nhất là phải lọt tai “nàng”. Cũng cần phải nói rằng, người đời đã có những cách nói thanh trong tục rất đa dạng và hợp lí. Đó chính là một nét đáng bàn của văn hoá dân gian.

Mượn lời Bút Tre

Bút Tre, một nhà thơ “vườn” Vĩnh Phú, đã sáng tác một số bài thơ với một lối nói riêng mộc mạc và rất ngộ. Thơ kiểu Bút Tre gần đây đã rộ lên chẳng khác gì một dòng thơ dân gian độc đáo, đượm chất truyền thồng mà vẫn rất hiện đại:

Bướm rừng sờ đến thì bay

Bướm nhà sờ đến nằm ngay ra giường

Logic của vấn đề bắt đầu bằng sự cố tình tạo ra một sự lầm lẫn về sở chỉ. Bướm (vốn chỉ một loài côn trùng cánh mỏng, phủ một lớp váy nhỏ như phấn, có nhiều màu sắc) không chỉ là bướm nữa. Cũng như vậy, chim bây giờ cũng không chỉ là chim nữa. Bởi, ngoài loài chim trời quen thuộc như ta vẫn thấy, đã “có một loài chim không bao giờ bay”:

Em khoe váy mỏng giữa trời

Để tôi nhìn rõ núi đồi thảo nguyên

Nhìn thấy “núi đồi” có nghĩa là nhìn thấy sự nhấp nhô, cao thấp... Nhìn thấy “thảo nguyên” là nhìn thấy cỏ cây, dây leo… Chà, chả cần có đầu óc giàu liên tưởng thì người ta cũng tưởng tượng ra ngay. So với “cầu trắng phau phau đôi ván ghép”, “cỏ gà lún phún” hay “cá giếc le te”,… của Hồ Xuân Hương thì nó cũng nằm chung một “trường liên tưởng” mà thôi:

Đồ Sơn là của quốc gia

“Đồ nhà” là của ông bà ngoại cho

Chuyện “Đồ Sơn, Đồ nhà” người ta đã nói mãi rồi còn gì. Từ cái thuở “Đồ Sơn sóng vỗ dập dồn” xa tít tắp. Anh chàng nào ra biển mà chẳng có tâm trạng háo hức thèm ngắm “cái Đồ Sơn” của thiên hạ để rồi ngầm so sánh với “cái đồ nhà” cũ rích của riêng mình. Một cái lạ có giá trị bằng một tạ cái quen cơ đấy! Và anh ta ngán ngẩm chép miệng:

Đồ nhà bằng cái lá đa

Đồ Sơn như chiếc bàn là Liên Xô

Chu cha, liên tưởng hơi bị… chuẩn. Chiếc bàn là hoa dâu của Liên Xô ngày trước, hẳn là nhiều gia đình Việt Nam ta đã sử dụng tới mức quen thuộc, là một vật dụng đáng giá. Và đáng giá hơn là nó được đem ra so sánh với cái “tỉnh tình tinh” (vốn chẳng ăn nhập gì với đồ điện) kia. Cả hai đều có dáng hình “phỏng sinh học” na ná giống nhau rất ấn tượng đấy chứ. Nhưng ấn tượng hơn là lối chơi chữ rất hóm sau đây:

Em ơi xin chớ ngập ngừng

Ngập thì có ngập, nhưng ngừng thì chưa

Ngập ngừng, một từ hai âm tiết có âm vực hơi trúc trắc, biểu thị một hành động cũng lên xuống hơi… trúc trắc. Nhưng ngập ngừng ở đây lại được ngắt làm hai để biểu thị hai trạng thái hành động của sự tình. Ngập, vâng ngập thật (chắc là vừa lòng em?). Nhưng ngừng thì chưa đâu nhé (vì chưa vừa ý anh, anh chưa muốn thế)! Quá hay. Chẳng cần diễn giải nhiều mà vẫn hàm súc, đủ ý. Nhạc sĩ nào đó đã từng cả gan “bẻ đôi câu thơ ta làm cánh thuyền lướt sóng” cũng không bạo dạn bằng anh chàng này. Anh chàng ấy dám nói một cách rất “đi-rếch (trực diện)”, mạnh bạo nhưng đâu có kém sự tế nhị và “ga-lăng”?

Bom Bo lắm cối nhiều chày

Còn anh chỉ “kết” cối này của em

Bây giờ chàng lại chuyển “gam” sang chuyên đề “chày - cối”. Cũng vẫn chỉ hai cái ấy thôi mà. Chày cối? Làng nước giã cua/ Nhà chùa giã oản/ Còn chúng mình ra phản/ Chúng mình “giã” nhau/ Chúng mình giã suốt đêm thâu/ Mặc cho thiên hạ qua cầu gió bay…
__________________
sống trên đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không?.....
để.. buốt... trái... tim.....
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #38  
Cũ 11-08-2010, 08:44 PM
huyngoc's Avatar
huyngoc huyngoc đã thoát
Nghệ nhân
 
Tham gia ngày: Jul 2009
Đến từ: dày đây mai đó đã từng
Bài gửi: 637
Thanks: 67
Thanked 39 Times in 35 Posts
Mặc định Ðề: mục thơ văn , và suy ngẫm

Trước ngày cưới ↓ đọc từ trên xuống
Chàng: Thật tuyệt vời! Cuối cùng thì giờ phút anh mong đợi nhất cũng đã tới!
- Nàng: Em phải ra đi à?
- Chàng: Không. Thậm chí em đừng bao giờ nghĩ tới điều đó!
- Nàng: Anh có yêu em không?
- Chàng: Tất nhiên rồi!
- Nàng: Anh có phản bội em không?
- Chàng: Không! Sao em lại có ý nghĩ đó cơ chứ?
- Nàng: Anh sẽ hôn em chứ?
- Chàng: Đương nhiên.
- Nàng: Anh sẽ đánh em chứ?
- Chàng: Không bao giờ!
- Nàng: Em có thể tin anh được không?

Sau ngày cưới ↑ đọc ngược lại
__________________
sống trên đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không?.....
để.. buốt... trái... tim.....
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #39  
Cũ 15-08-2010, 07:48 AM
huyngoc's Avatar
huyngoc huyngoc đã thoát
Nghệ nhân
 
Tham gia ngày: Jul 2009
Đến từ: dày đây mai đó đã từng
Bài gửi: 637
Thanks: 67
Thanked 39 Times in 35 Posts
Mặc định Ðề: mục thơ văn , và suy ngẫm

Giáo sư Phan Ngọc:
Then chốt của văn hóa là ở chữ “cho”


- Giáo sư Phan Ngọc biết 13 ngoại ngữ và sử dụng thành thục tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Trung Quốc. Sinh thời, ông Trần Huy Liệu, đọc cuốn Từ điển Anh - Việt do Phan Ngọc biên soạn, đã không giấu nổi ngạc nhiên, vì người chưa một lần đặt chân đến nước Anh lại biên soạn được cuốn từ điển chuẩn xác đến vậy. Hàng chục công trình của ông trở thành sách gối đầu của sinh viên các trường đại học và giới nghiên cứu... Ông còn là tác giả của nhiều công trình dịch thuật như: Sử ký Tư Mã Thiên, Mỹ học Hê-ghen, Hình thái học của nghệ thuật..

Quên nhiều chuyện khác để viết
Giáo sư Phan Ngọc là con của quan Thượng thư Phan Võ, người làng Hợp Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội, ông về giảng dạy môn tiếng Anh tại Trường cấp 3 (nay là PTTH) Phan Đăng Lưu ở quê nhà, rồi làm Hiệu trưởng của trường. Sau này, ông chuyển ra Hà Nội dạy tại Đại học Tổng hợp (nay là ĐH KHXH&NV). Là tổ trưởng đầu tiên bộ môn Ngôn ngữ thuộc Khoa Ngữ văn của trường, ông có nhiều công lao trong việc dịch các tài liệu giảng dạy và xây dựng giáo trình ngôn ngữ cho bộ môn này từ những ngày đầu.

Cuộc đời ông trải qua không ít sóng gió, nhất là án kỷ luật liên quan đến vụ "Nhân văn giai phẩm". Từ một giảng viên, ông trở thành người phục vụ, làm lao công trong nhà trường. Trong tình huống dễ nản lòng và nảy sinh tiêu cực, ông vẫn miệt mài dịch các tài liệu về ngôn ngữ để phục vụ cho việc giảng dạy và âm thầm dịch sách. Nhớ lại ngày đó, ông cười vui mà rằng: "Sao lúc đó mình liều thế!". Rồi ông thủng thẳng: "Không liều cũng không được. Vợ, con trông cả vào mấy đồng lương. Lương thì eo hẹp, phải dịch sách để kiếm cơm. Không cần mẫn lao động bằng chất xám của mình thì sẽ... chết". Làm lao công nhưng ông vẫn muốn trở thành người có ích, vẫn không ngừng sáng tạo.

Giáo sư cho rằng, người thành đạt thường trải qua thất bại. Để thực hiện được kế hoạch đặt ra thì phải đi con đường khác người khác, nên dễ bị đả phá. "Người mình thất bại một lần là nản. Thất bại có lỗi của mình nhưng nó là một cơ hội, một bài học cho mình. Cái dở của người Việt Nam là thích làm người yên ổn, luôn thành công, không va vấp gì cả. Đó là lối sống, là tư tưởng của nhà Nho. Cái lợi là quan trọng nhưng không nên coi đó là tất cả. Muốn giàu có mà không muốn mất cái gì cả là điều không tưởng", ông chia sẻ.

Phan Ngọc quả là tấm gương về tinh thần vượt khó, chịu đựng gian khổ. Nếp làm việc 16 giờ/ngày được hình thành từ hồi đi học, đến nay, ngoài 80 tuổi, ông vẫn giữ "phong độ" như vậy. Từ ngày nghỉ hưu, ông vẫn viết sách, rồi dịch sách đều đặn. Ông tâm sự, để làm khoa học, phải đặt ra mục tiêu để phấn đấu trên cơ sở biết lượng sức mình. "Làm những việc nhỏ, những mục tiêu ngắn hạn mà thành công thì việc lớn cũng thành công, mục tiêu dài hạn cũng đạt được. Nhưng để làm được việc, cần tránh những chuyện ồn ào. Như tôi, lao vào viết thì phải quên nhiều chuyện khác. Mình cũng muốn ăn nhậu, muốn chơi sao làm việc được. Cái gì cũng muốn thì làm sao thành công. Phải biết hy sinh chứ!", ông cười.

Vợ chồng giáo sư chuyển nhà từ Khu tập thể Thành Công về Khu đô thị Mỹ Đình đã mấy năm nay. Căn hộ ở tầng 6, gồm 4 phòng khang trang, rộng rãi với tổng diện tích 180m2 khiến tôi nhớ cái thời gia đình ông sống ở phố Bùi Thị Xuân (Hà Nội). Nhà đông người, phòng chật hẹp, bàn làm việc của ông kê ép vào tường và ông phải ngồi ở một đầu bàn để viết, từng chồng sách bày la liệt trên bàn… Bộ "Sử ký Tư Mã Thiên" do ông dịch đã ra đời trong hoàn cảnh như vậy.

Làm nghiên cứu phải xuất phát từ cái tâm
Giáo sư Phan Ngọc đã công bố nhiều đầu sách về văn hóa: Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới (1994), Bản sắc văn hóa Việt Nam (1998), Một cách tiếp cận văn hóa Việt Nam (2000), Một nhận thức về văn hóa Việt Nam (2005)... Ông thường tìm con đường riêng để tiếp cận các vấn đề văn hóa, xã hội... xuất phát từ việc nghiên cứu cái bất biến của vấn đề để từ đó giải thích những thay đổi và chuyển động của sự vật và hiện tượng. Tuy nhiên, những cuốn sách của ông thường gây nên dư luận khen, chê trái chiều.

Không chỉ viết sách và nghiên cứu văn hóa, ông từng được mời giảng dạy và thỉnh giảng tại nhiều trường đại học ở nước ngoài. Có lần, chương trình giảng dạy và trò chuyện về văn hóa Việt Nam 16 buổi ở nhiều trường tại Pháp mà vẫn chưa hết đề tài để nói. Cách đây mấy năm, một trường đại học ở Hồng Công mời ông đến nói chuyện về Khổng Tử. Các buổi thuyết trình thu hút rất đông người đến nghe. Không ít nhà nghiên cứu về Khổng Tử từ đại lục có mặt. Sau buổi thuyết trình, một giáo sư từ một trường đại học của Trung Quốc đến bắt tay ông: "Bây giờ tôi mới thật hiểu về Khổng Tử. Xin cảm ơn ông nhiều lắm". Trường đại học này mời ông ở lại nghiên cứu và giảng dạy với mức lương hậu hĩnh nhưng ông từ chối dù đã nghỉ hưu. Một trường đại học ở Thái Lan cũng đã mời ông sang dạy suốt nửa năm trời. Lãnh đạo trường ngỏ ý mời ông ở lại tiếp tục công việc nhưng cả ông và bà đều quyết định về nước.

Nghe bà vui chuyện, ông vừa thả khói thuốc vừa nói: "Nghệ thuật không chỉ ở cái tài mà còn xuất phát từ cái tâm. Muốn làm nghệ thuật, làm khoa học thì phải thanh thản, thấy con đường mình đi là đúng, là phù hợp với lợi ích dân tộc. Bởi, then chốt của văn hóa là ở chữ "cho"".
__________________
sống trên đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không?.....
để.. buốt... trái... tim.....
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #40  
Cũ 15-08-2010, 07:56 AM
huyngoc's Avatar
huyngoc huyngoc đã thoát
Nghệ nhân
 
Tham gia ngày: Jul 2009
Đến từ: dày đây mai đó đã từng
Bài gửi: 637
Thanks: 67
Thanked 39 Times in 35 Posts
Mặc định Ðề: mục thơ văn , và suy ngẫm

MỘT VÀI ĐIỀU ÍT ĐƯỢC NHẮC LẠI

VỀ NHÀ PHÊ BÌNH TRƯƠNG TỬU



Phan Ngọc



Năm nay (2008), chúng ta chính thức tổ chức kỷ niệm 95 năm ngày sinh của giáo sư Trương Tửu. Nhân dịp này, tôi xin nhắc lại một vài điểm gần như không ai nhắc đến, nhưng lại rất cần thiết để hiểu giáo sư cũng như phong trào “Nhân văn”, trong đó giáo sư là một nhân vật chủ chốt. Tôi tự nhận mình là người thân của giáo sư. Vì giáo sư chỉ hơn tôi có 13 tuổi, lại cũng “mất quyền dạy học” như tôi, nên tôi xin phép dùng chữ “anh”, danh từ thường dùng trong gia đình. Người Việt Nam thích gọi nhau bằng những danh từ thường dùng trong gia đình.

Trước tiên, xin nhắc lại một vài điểm đã được Kiều Mai Sơn nhắc đến trong bài “Kỷ niệm 95 năm ngày sinh của GS Nhà văn Trương Tửu (1913 - 2008)” với nhan đề “GS Trương Tửu: người đào tạo số mệnh của chính mình”.

Trương Tửu sinh năm 1913, học tiểu học và trung học ở trường tư thục Trương Minh Sang. Rồi vào trường kỹ nghệ thực hành học nghề thợ tiện ở Hải Phòng. Bị đuổi học vì tham gia phong trào đòi dân chủ. Từ đó tham gia phong trào Bình dân. Bị treo bút khi làm chủ bút tuần báo Quốc gia khuynh tả chống vua Bảo Đại. Trở thành nhà báo và nhà phê bình văn học từ năm 1931.

Tôi xin nói đến quan hệ giữa Trương Tửu với báo Phong hóa, Ngày nay và Tự Lực văn đoàn. Không phải ngẫu nhiên Trương Tửu là kẻ chống lại Phong hóa, Ngày nay, tờ báo có thể nói có ảnh hưởng lớn tới văn hóa Việt Nam, đặc biệt tới thế hệ chúng tôi. Tờ báo này và xu hướng văn học của nó là thiên hẳn về cá nhân luận. Ảnh hưởng văn học của nó là to lớn khi các tiểu thuyết và phong trào thơ mới mà nó đề xướng đề cao phân tích tâm lý, một ngôn ngữ giản dị ai đọc cũng hiểu, rất ít ảnh hưởng từ chương học cổ (đối xứng, điển cố). Cái cá nhân luận của nó khi đề cao ý thức cá nhân đối với xã hội, gia đình là có giá trị nhất định. Nhưng không làm gì có một cá nhân luận trống không, mà cá nhân luận là để làm gì, phục vụ ai. Rất tiếc phong trào văn hóa của nó chủ trương chống đối mọi đặc điểm của văn hóa cũ để theo văn hóa phương Tây. Lúc đó, nó là chủ nghĩa cá nhân, vì nó bỏ quên xã hội và đất nước. Người tiêu biểu cho nó là Nguyễn Tường Tam, bút danh Nhất Linh. Trong một bài viết trên tờ Phong hóa, tuy không nhớ chi tiết nhưng tôi nhớ nội dung, Nhất Linh nói: “Tuy văn hóa cũ đập vào mắt chúng ta nhưng chúng ta không thể hài lòng về nó. Chúng ta chỉ còn cách nhìn vào văn hóa phương Tây. Chúng ta chưa biết tương lai sẽ thế nào, nhưng số phận chúng ta là đi con đường chưa được xác định, là hy vọng và thay đổi”.

Quyển tiểu thuyết tiêu biểu cho phong trào này là quyển “Đoạn tuyệt” của Nhất Linh. Loan, một cô gái theo tư tưởng mới, bắt buộc phải lấy một người mình không thể yêu. Tiểu thuyết trình bày những phản ứng của Loan trước những tệ hại của gia đình theo lối cũ: việc bắt trẻ em uống tàn hương nước thải, việc dùng một cành dâu non để xua đuổi tà khí gây bệnh cho đứa trẻ. Những xung đột gia đình giữa Loan và người chồng vũ phu đánh đập nàng cuối cùng dẫn tới một vụ ngộ sát. Ông chồng trong khi đánh đập vợ bị mất thăng bằng ngã vào con dao rọc giấy Loan cầm ở tay để đọc truyện và bị đâm thủng tim rồi chết. Loan bị đưa ra tòa án và được trắng án nhờ sự can thiệp của luật sư bào chữa. Ông này nói trắng ra chế độ gia đình trước đây là chế độ nô lệ và nó phải sụp đổ.

Nhiều tác phẩm của Nhất Linh và Khái Hưng tập trung vào việc chống lại các hủ tục của gia đình truyền thống như việc bắt con gái chết chồng phải ở góa suốt đời, việc tranh giành gia tài trong một gia đình giàu có v.v... Những phê phán ấy là có lý, và nó đã góp phần gây ảnh hưởng quan trọng về văn học của nhóm này.

Nhưng có hai điều mà nhóm này bỏ quên. Thứ nhất, chính gia đình với sự gắn bó của nó với họ hàng, làng xã và Tổ quốc là nền tảng của nền độc lập Việt Nam trên một ngàn năm từ năm 939 khi nhà Đường phải thừa nhận đến năm 1859 khi thực dân Pháp đánh chiếm Sài Gòn, không kể thời gian 20 năm ngắn ngủi 1407-1427 bị quân Minh đô hộ. Việc Việt Nam mất nước không phải do lỗi của gia đình mà là lỗi của chính quyền nhà Nguyễn không biết gì về cái thế giới phương Tây khi nó đã đi con đường xâm lược theo sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Điều thứ hai là dưới chế độ thực dân Pháp, không thể nào nói đến văn hóa mà không nói đến trách nhiệm. Dĩ nhiên, dưới thời Pháp thuộc không thể nào nói đến chuyện chống thực dân được. Nhưng trách nhiệm trước quần chúng lao động thì có thể bỏ qua được không để chỉ nói đến sự hưởng thụ của cá nhân? Tiếc là các nhà văn của Tự lực văn đoàn bỏ qua điều này, không nói đến nó. Một khi đã như vậy, thì các cá nhân thoát khỏi ràng buộc gia đình sẽ chạy vào trụy lạc, hưởng thụ và rơi vào chủ nghĩa cá nhân. Đó là điều các nhà văn này không thể tránh khỏi. Mặt khác, dù chống gia đình kiểu cũ, họ vẫn không thoát khỏi nó. Đó là trường hợp của nhân vật chính trong “Gia đình” của Khái Hưng. Dù rất ghét con đường làm quan, cuối cùng nhân vật này vẫn phải làm quan, vì họ bên nội, bên ngoại thúc ép, và thực tế anh ta không thể sống cách nào khác được. Thái độ coi khinh nông dân của Tự Lực văn đoàn là đáng trách, nhất là sau khi Xô viết Nghệ Tĩnh đã chứng minh nông dân là một sức mạnh quan trọng như thế nào và nếu được lãnh đạo đúng đắn thì những người ấy sẽ góp phần tạo nên lịch sử chứ không phải những người cá nhân chủ nghĩa chạy theo văn hóa Pháp của Tự Lực văn đoàn.

Không phải ngẫu nhiên mà Lê Văn Trương khi viết tác phẩm chính của mình là “Một người” có viết lời đề tặng “Tặng anh Trương Tửu”. Trương Tửu yêu cầu trách nhiệm. Dĩ nhiên, dưới thời Pháp thuộc làm sao có thể nói đến trách nhiệm chống Pháp? Câu chuyện trách nhiệm bị thu hẹp lại thành trách nhiệm với những người lao động quanh mình. Tôi có hỏi anh lý do. Anh bảo quyển tiểu thuyết này có nhiều điểm lấy ở cuộc đời của anh và tình yêu của anh. Nhưng anh không chịu nói thêm. Lê Văn Trương thích anh về cái nhìn “trách nhiệm”. Hai người đều bị Tự Lực văn đoàn phê phán trong câu quen thuộc “Tên anh nọ (chữ Trương trong Lê Văn Trương), họ anh này (chữ Trương trong Trương Tửu)”. Nguyễn Công Hoan cũng đi con đường ấy và quyển “Cô giáo Minh” viết ra để chống lại “Đoạn tuyệt” đã bị Nhất Linh kiện là “ăn cắp văn”. Nhưng Nguyễn Công Hoan xét đến trách nhiệm của một cô giáo với nhiều người chứ không bó hẹp vào những sở thích cá nhân.

Chính nhờ những công trình của Trương Tửu, Nguyễn Công Hoan và những nhà phê bình khác như Thiếu Sơn, thế hệ chúng tôi bắt đầu có cách đánh giá đúng mực hơn về Phong hóa, Ngày nay và bắt đầu chú ý đến những tác phẩm đi con đường mác-xít.

Câu chuyện “Nhân văn - Giai phẩm” trong đó có nhóm giảng dạy 5 người (Trần Đức Thảo, Trương Tửu, Đào Duy Anh, Nguyễn Mạnh Tường, Phan Ngọc) tham gia đã bị trình bày không sát. Tôi thấy cần phải nhắc lại sự thực.

Stalin (bí danh với nghĩa là “con người thép”) chết vào tháng 3 năm 1953. Ba năm sau, trong đại hội XX của Đảng Cộng sản Liên Xô, Khơ-rút-sốp tố cáo ông đã thi hành một chính sách đàn áp, khủng bố, xuyên tạc lịch sử và tự đề cao mình. Tất cả chúng tôi đều đọc báo cáo này say mê và liên hệ nó với những điều quá đáng trong cải cách ruộng đất. Sau đó, chúng tôi còn đọc bài “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” của Chu Dương[1] và hy vọng vào cuộc đổi mới. Do đó, các anh Trần Đức Thảo, Trương Tửu, thầy Đào Duy Anh, GS Nguyễn Mạnh Tường có viết một số bài về hướng này. Thực tình không ai nghĩ đến chuyện chống Đảng cả. Bài tôi viết “Văn học và tuyên truyền” nói tác dụng to lớn của văn học về mặt tuyên truyền nhưng tự nó khác tuyên truyền vì nó phải dành chỗ cho người đọc tự mình suy nghĩ. Bài này không đăng. Tình hình thực tế là thế. Không ngờ đây là một biện pháp của Mao Trạch Đông nhằm xúi giục trí thức Trung Hoa nói thẳng ý nghĩ của họ để trừng trị cho có cơ sở. Nhưng đường lối cách mạng Việt Nam nhẹ tay hơn: không ai bị giết, chỉ bị thôi việc. Tôi vẫn ở lại làm việc nhưng chuyển từ nghiên cứu sang phiên dịch cho đến khi về hưu năm 2000 khi tôi 75 tuổi.

Tôi còn nhớ rõ hôm GS Trương Tửu bị phê bình và cách chức. Tôi thấy anh đi ra thản nhiên. Lòng tôi tự hỏi: “Anh làm cách nào để sống đây!”. Tôi có nghề phiên dịch sẽ sống bằng nghề này, một nghề có thể nói không động chạm tới chính trị. Còn anh thì làm thế nào để sống?

Sau này, tôi đến nhà anh ở 53 Hàng Gà, thấy anh đã thành một chuyên gia châm cứu nổi tiếng. Tôi hỏi anh làm thế nào mà anh thạo châm cứu như vậy? Anh bảo anh học châm cứu lúc đầu để chữa bệnh cho mình, sau đọc sách, học các lương y mà trở thành nhà châm cứu thực sự.

Điều cần nói đến là tuy số người bị kỷ luật về tội “xét lại” khá đông nhưng không có ai bỏ Đảng và dân tộc. Mọi người chấp nhận khó khăn, chăm chỉ làm việc. Chẳng ai chống lại Đảng và dân tộc. Trong lúc đó, có người chê bai chúng tôi nhưng sau lại chê bai cả đường lối cứu nước của Đảng và dân tộc một khi có dịp rời khỏi nước.

Bây giờ, tôi xin phép nói đến đường lối nghiên cứu của anh với tư cách nhà phê bình văn học. Người Trung Quốc và người Việt Nam đều say mê văn chương phần nào hơn người phương Tây. Chế độ thi cử xưa chỉ thu hẹp vào văn chương không mảy may nói đến một môn học nào nữa như toán, ngoại ngữ mà ngay việc thi bằng sơ học ngày nay đã phải có. Mà nội dung của văn chương là chuyện thời xưa, không phải chuyện ngày nay. Còn cái gọi là bình luận thì chỉ dựa theo ấn tượng hoàn toàn chủ quan của người viết. Ngày xưa có câu “Văn chương tự cổ vô bằng cứ” tức là “văn chương từ xưa đã chẳng có bằng cứ nào hết”. Phê bình là một bộ phận của văn chương, và nó thực sự chỉ là văn chương, và nhà phê bình chỉ nêu lên những ấn tượng chủ quan của mình không cần bằng chứng. Tôi chỉ xin dẫn trường hợp “Truyện Kiều”. Có hàng trăm bài viết về tác phẩm này đọc thường là thú vị nhưng ngoài một vài hiểu biết về cuộc đời của Nguyễn Du, chẳng ai biết gì hơn về phong cách, cách viết, kinh nghiệm viết, tất cả những chuyện tôi gọi là thao tác.

Còn Trương Tửu thì khác. Anh đòi hỏi tác phẩm phải có ích cho công việc hiện nay. Với một dân tộc yêu nước như Việt Nam thì điều cần thiết là cách cứu nước. Nhưng làm sao có thể nói điều đó dưới thời Pháp thuộc? Cho nên anh phải nói loanh quanh. Tôi xin phép lấy những tác phẩm anh viết về Nguyễn Du làm bằng chứng. Anh có viết ba công trình về “Truyện Kiều”: “Nguyễn Du và Truyện Kiều” (1940), “Văn chương truyện Kiều” (1944), “Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du” (1956). Nhân đây, tôi xin nói đến cách học chủ nghĩa Mác của anh, vì không những lối trình bày là của Mác, mà các cách lập luận của anh là dựa vào cách hiểu của anh về chủ nghĩa Mác, để lý giải những điều nhiều khi trái ngược nhau ở nhà phê bình này.

Trương Tửu tự mình học chủ nghĩa Mác, không phải theo một truyền thống có sẵn. Anh đòi hỏi một tác phẩm văn học phải có ích. Khi anh nhận thấy có một xu hướng chạy quá đáng vào văn chương bỏ quên trách nhiệm (dĩ nhiên, dưới thời Pháp thuộc làm sao có thể nói đến trách nhiệm đối với đất nước được) thì anh chống lại, bất chấp ảnh hưởng và giá trị thực tế về văn học của tác phẩm. Đó là lý do tại sao anh chống lại “Truyện Kiều”. Điều này anh nói công khai trong “Văn chương Truyện Kiều”. Cũng phải đánh giá việc anh bênh vực “nhà nho tài tử” ở Nguyễn Công Trứ. Đằng sau việc nêu lên cái tài trong khái niệm “tài tử” là tình trạng thấy mình vô dụng, không có điều kiện đưa cái tài sẵn có ra giúp dân cứu nước như trường hợp Nguyễn Công Trứ trước họa xâm lược.

Sau khi cách mạng thành công, anh nhận thấy sự thiếu sót, hời hợt của mình trong việc đánh giá văn học. Anh tự phê phán mình trong quyển “Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du”, và đây chính là thực tâm. Trên con đường khảo sát, nghiên cứu, anh thường cực đoan, nhưng anh không mưu lợi cho mình. Anh đúng là nhà phê bình văn học đầu tiên của Việt Nam mà tôi biết được không đi con đường văn chương mà đi con đường phục vụ, tuy chữ này phải hiểu ngầm và dễ vấp váp, như chính anh đã vấp váp.

Vì đi con đường tự mình xoay xở nên anh không đi theo con đường có sẵn do lý luận của Stalin đưa ra, hay do các Đảng Cộng sản nêu lên, và bị ngờ là theo Trotsky. Câu chuyện đường lối Stalin rồi đường lối Mao Trạch Đông hiện nay đã bị vượt qua. Thế giới ngày nay đã đi con đường hậu công nghiệp, giao tiếp toàn nhân loại, cho nên chuyện anh Tửu có phải là theo Trotsky hay không cũng không cần nói đến. Việt Nam đã có đường lối Hồ Chí Minh của mình.

Bây giờ nói đến cách dạy học của anh. Tôi biết rõ điều này vì tôi đã từng làm trợ lý cho anh ở Khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp. Cách trình bày văn học của anh khác cách trình bày của phần lớn các giáo sư. Nhìn chung, các giáo sư không nêu ngay các kết luận mà đưa ra những nhận xét và chứng minh sức thuyết phục và tính đúng đắn của nhận xét. Còn anh khi dạy anh nêu lên một loạt tiên đề, rồi sau đó áp dụng cho từng tác giả. Anh thiên về phương pháp làm việc. Học sinh có quyền đưa ra những kết luận khác. Nhưng văn học từ nay có bằng cứ, không phải là văn chương chỉ dựa vào trình độ nhạy cảm của người trình bày.

Tôi nhận thấy anh rất được sinh viên thích học vì cách anh đánh giá văn học có cơ sở hơn. Còn việc đúng sai là thuộc trình độ học vấn của từng người, làm sao có thể quyết định trước được?

Giờ tôi nói đến thái độ của anh đối với vụ kỷ luật để khẳng định sự gắn bó của anh với Đảng và Tổ quốc.

Trước khi anh mất ba tháng, anh có gọi điện thoại cho tôi bảo vợ chồng tôi đến nhà anh vì anh đang ốm. Hai vợ chồng tôi đến. Anh hỏi tôi:

− Có một điều tôi thắc mắc là tại sao nhiều cậu chỉ nói đôi câu mà bị giam. Còn tôi tranh cãi rõ ràng, viết nhiều bài báo mà lại không bị giam?

Tôi đáp:

− Đó là vì bọn mình là dân ngoài Đảng. Dân trong Đảng phạm sai lầm là chống Đảng nên bị tội nặng. Còn bọn chúng mình có sai lầm là vì ngu dốt, bướng bỉnh. Anh xem có anh ngoài Đảng nào vì chống Đảng mà bị tù đâu?

Anh nói tiếp:

− Một anh bạn bảo mình: Thực là may khi Bác Hồ không nói một câu nào chống Nhân văn cả. Nếu không bọn mình đều bị tù hết.

Tôi nói thêm:

− Cả anh Văn (Võ Nguyên Giáp) nữa cũng thế.

Tôi nói điều này có căn cứ. Ngày Bác đến thăm trường Tổng hợp, tôi đứng bên cạnh. Có tiếng xôn xao: “Nhân văn! Nhân văn!”. Ý giục Bác nói về “Nhân văn”. Nhưng Bác không nói, chỉ nói trách nhiệm ở trường Đại học là phải học cho chu đáo. Tôi phải nói điều này vì vào lúc đó Việt Nam phải dựa vào sự giúp đỡ về vũ khí của Trung Hoa và phải nín nhịn. Ở nhà anh Văn treo một bức trướng to tướng chỉ viết một chữ “nhẫn” (nín nhịn). Các vị lãnh đạo của ta trong những hòan cảnh nhất định đều phải nín nhịn. Đã theo cách mạng, có nhiều lúc phải nín nhịn. Việc làm khoa học cũng thế.

Anh nói tiếp:

− Gần đây nhiều người yêu cầu tôi viết vì thời đại quan liêu bao cấp đã hết. Nhưng giờ tôi yếu lắm, trí nhớ kém sút, không thể viết được.

Tôi thấy cần nhắc đến chuyện này để bạn đọc hiểu tâm trạng những người bị xem là Nhân văn. Vì hầu hết đã qua đời nên nhân dịp này tôi trình bày một vài chuyện có thực. Dĩ nhiên là không phải để cầu xin điều gì, vì điều mơ ước là nước độc lập, thống nhất đã được thực hiện. Còn việc làm cho “nước giàu, dân mạnh, xã hội công bằng, phát triển, văn minh” còn đang tiến hành. Dù khó khăn đến đâu các kinh nghiệm thành công trong giai đoạn trước sẽ hết sức bổ ích cho giai đoạn sau./.



[1] “Trăm hoa đua nở trăm nhà đua tiếng” của Chu Dương: chỗ này có thể ông Phan Ngọc nhớ lầm; thực tế đây là chủ trương do Trung ương ĐCS Trung Quốc đề xướng, giao cho Lục Định Nhất (chứ không phải Chu Dương) phát ngôn. Ở Việt Nam đương thời, bài viết của Lục Định Nhất với nhan đề nói trên (bản chữ Hoa đăng “Nhân dân nhật báo” Bắc Kinh) đã được trích dịch và đăng trên báo “Văn nghệ” số 134 ra ngày 16/8/1956, và được dịch đăng toàn văn trên báo “Nhân dân” ngày 30/9/1956 (chú thích của Lại Nguyên Ân).
__________________
sống trên đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không?.....
để.. buốt... trái... tim.....
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #41  
Cũ 15-08-2010, 09:03 AM
huyngoc's Avatar
huyngoc huyngoc đã thoát
Nghệ nhân
 
Tham gia ngày: Jul 2009
Đến từ: dày đây mai đó đã từng
Bài gửi: 637
Thanks: 67
Thanked 39 Times in 35 Posts
Mặc định Ðề: mục thơ văn , và suy ngẫm

Trên Tạp chí Văn học số 2/1998, trong bài khẳng định "Không có 'Bản kinh' Truyện Kiều do vua Tự Đức đưa in", ông Đào Thái Tôn có nhắc lời cụ Lê Thước, thuật việc lưu hành bộ sách Thập bát tài tử (trong đó có Kim Vân Kiều truyện) ở Huế trước năm 1945 (tr.28, chú thích 7).

Sưu tầm có kết quả 18 bộ tài tử vừa nêu chắc chắn sẽ là một đóng góp ý nghĩa cho việc nghiên cứu tiến trình phát triển của tài tử thư ở cả Việt Nam và Trung Quốc. Nhận diện được 18 bộ sách nọ cũng sẽ chỉ ra được tiêu chuẩn bình giá, xếp loại tiểu thuyết tài tử.tài tử thư tài tử thư được thừa nhận ở nước ta vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX.tài tử vừa nêu chắc chắn sẽ là một đóng góp ý nghĩa cho việc nghiên cứu tiến trình phát triển của tài tử thư ở cả Việt Nam và Trung Quốc. Nhận diện được 18 bộ sách nọ cũng sẽ chỉ ra được tiêu chuẩn bình giá, xếp loại tiểu thuyết tài tử. Trong khi chờ đợi phát hiện quan trọng này, chúng tôi thử điểm qua khái niệm tài tử thư trong văn chương Trung Hoa, đồng thời dựa vào các tài liệu thành văn ở Việt Nam, sơ bộ khảo sát nội dung của tài tử thư được thừa nhận ở nước ta vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX.

Kim Thánh Thán và Lục tài tử thư

Tài tử 才子 nguyên là từ để chỉ người kiêm gồm đức tài, như Tả truyện 左 傳 (Văn, năm thứ 18 文 , 十 八 年) viết: "Xưa họ Cao Dương có 8 người tài tử" (Tích Cao Dương thị hữu tài tử bát nhân 昔 高 陽 氏 有 才 子 人). Tuy nhiên, khi Phan Nhạc 潘 岳 đời Tấn viết Tây chinh phú 西 征 賦: "Giả Sinh1 - tài tử đất Lạc Dương" (Giả Sinh Lạc Dương chi tài tử 賈 生 洛 陽 之 才 子), tài tử đã hàm nghĩa "người tài hoa".

Căn cứ chủ yếu vào tính tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm, Kim Thánh Thán 金 聖 嘆 (1608 - 1661) là người đầu tiên đề xuất khái niệm tài tử thư 才 子 書. Cả ba bộ sách luận bình văn chương của ông đều nhằm phân tích, bình giá các tác phẩm xuất chúng: Tất độc tài tử thư 必 讀 才 子 書2, Đường tài tử thư 唐 才 子 書3 và Quán hoa đường tài tử thư 貫 華 唐 才 子 書4. Khái niệm lục tài tử thư 六 才 子 書 là do Kim đề xuất. Mở đầu bài tựa cho Tam quốc diễn nghĩa 三 國 演 義, Kim Thánh Thán viết: "Ta từng thu tập tài tử thư gồm sáu bộ, hạng mục như sau: sách Trang, thiên Tao, Sử ký của Mã, luật thi họ Đỗ, Thủy hử và Tây sương 5. Đó chính là sáu bộ sách thuộc các lĩnh vực thi văn, lịch sử, triết học được xếp theo trình tự thời gian: Trang Tử² 莊 子, Ly tao 離 騷 , Sử ký 史 記 của Tư Mã Thiên 司 馬 遷 (145 -74 (?) TCN), thơ Đỗ Phủ 杜 甫(712 -770), Thủy hử truyện 水 滸 傳 và Tây sương ký 西 廂 記. Trên thực tế, danh sách lục tài tử thư của Thánh Thán chính là sự kế thừa và bổ sung cho nhóm bốn kiệt tác đã được Vương Thế Trinh 王 世 貞 (1526 - 1590) tán dương là tứ đại kỳ thư 四 大 奇 書: Sử ký, Trang Tử, Thủy hử truyện và Tây sương ký 6.

Từ lục tài tử thư đến thập tài tử thư

Số lượng sáu bộ tài tử thư dần thay đổi với thời gian, và cùng với sự tăng thêm về số lượng, nội hàm của tài tử thư cũng biến đổi. Ngay khi đề cập đến sáu bộ tài tử thư trong bài tựa cho Tam quốc diễn nghĩa, Kim Thánh Thán đã có ý xếp sách này vào đầu danh sách. Ở đầu bài tựa, ông cho rằng sáu bộ sách trên dẫu đã là tuyệt tác, nhưng so lại, không quyển nào kỳ diệu hơn Tam quốc diễn nghĩa 7. Đến cuối bài Kim kết luận: "Về sau này mới rõ ra bậc nhất trong mục thứ tài tử thư, quả là ở nơi bộ Tam quốc này8. Cùng ở cuối bài giảng luận về phép đọc Tam quốc diễn nghĩa, Mao Tông Cương 毛 宗 崗 (thế kỷ XVII) kết luận theo cùng một ý với Kim: "Trong danh mục gọi là tài tử thư của tôi, Tam quốc diễn nghĩa nên được xếp vào hạng nhất"9. Nhận định này đưa Trang Tử ra ngoài danh sách tài tử thư, và thay vào đó bộ tiểu thuyết chương hồi lịch sử đầu tiên của Trung Hoa.

Một biến đổi quan trọng khác là việc tăng bổ tiểu thuyết tài tử, giai nhân vào danh sách tài tử thư. Tài tử, giai nhân sớm xuất hiện trong tiểu thuyết văn ngôn đời Đường, như trong Hội chân ký 會 真 記 của Nguyên Vi Chi 元 微 之10. Đề tài tình yêu giữa trai tài, gái sắc tiếp tục được khai thác không chỉ trong tiểu thuyết, mà còn trong các hình thức diễn xướng, như trong thoại bản, chư cung điệu, và đàn từ. Chính điểm này sẽ giải thích cho tình hình phức tạp của các danh sách tài tử thư giới thiệu ở đây.

Khái niệm "tiểu thuyết tài tử, giai nhân" nay thường dùng để chỉ tiểu thuyết chương hồi trung thiên, viết bằng bạch thoại, thịnh hành vào cuối Minh - đầu Thanh, chuyên miêu thuật ái tình - hôn nhân giữa nam thanh, nữ tú11. Tư liệu sớm nhất hiện còn, liên quan đến việc định danh loại tiểu thuyết này là ghi chép của Lưu Diên Cơ 劉 延 璣 (đời Thanh - Khang Hy) trong tác phẩm Tại viên tạp chí 在園雜志: "Các loại tiểu thuyết gần đây như Bình Sơn Lãnh Yến 平 山 冷 燕, Tình mộng thác 情 夢 柝, Phong lưu phối 風 流 配, Xuân liễu oanh 春 柳 鶯, Ngọc Kiều Lê 玉 嬌 梨 đều là tài tử - giai nhân, mộ tài - mộ sắc... "12.

Hảo cầu truyện, Ngọc Kiều Lê, và Bình Sơn Lãnh Yến được đưa vào danh sách lục tài tử thư, thay thế cho Ly tao, Sử ký, và thơ Đỗ Phủ, thành danh đệ nhị, đệ tam, và đệ tứ tài tử thư. Đáng chú ý là đến đây, khái niệm tài tử không còn được vận vào tác giả: tiểu thuyết tài tử - giai nhân tham gia vào danh sách, và tài tử trong thuật ngữ tài tử thư là để chỉ các nhân vật chính, tài sắc, mỹ mạo trong tác phẩm13. Do số lượng của những nhân vật này mà các truyện trên được xếp theo thứ tự 2, 3 và 4. Hảo cầu truyện còn gọi là Hiệp nghĩa - Phong nguyệt truyện 俠 義 風 月 傳, phụ đề "Lưỡng tài tử thư 兩 才 子 書, tập trung vào hai nhân vật chính Thiết Trung Ngọc 鐵 中 玉 và Thủy Băng Tâm 水 冰 心 14. Ngọc Kiều Lê và Bình Sơn Lãnh Yến là hai trong số mười sáu tác phẩm liên quan đến Thiên Hoa Tàng chủ nhân 天 華 藏 主 人 15. Ngọc Kiều Lê là tên gọi tắt của hai nhân vật tài nữ chính trong truyện: Bạch Hồng Ngọc 白 紅 玉 (từng cải danh thành Vô Kiều 無 嬌) và Lư Mộng Lê 盧 夢 梨 cùng thành hôn với tài tử thư sinh Tô Hữu Bạch 蘇 友 白. Theo cùng một cách, Bình Sơn Lãnh Yến hợp tập tên của bốn nhân vật tài tử trong truyện - Bình Như Hành 平 如 衡, Sơn Đại 山 黛, Lãnh Giáng Tuyết 冷 絳 雪 và Yến Bạch Hạm 宴 白 頷 - thành tên sách. Thiên Hoa Tàng chủ nhân cho in chung hai truyện này, gọi là Thiên Hoa Tàng hợp khắc thất tài tử thư 16.

Hai bộ tài tử thư thứ năm và thứ sáu (Thủy hử truyện và Tây sương ký) trong danh sách của Kim Thánh Thán được bảo lưu: vị trí bổ sung thứ bảy, trên thực tế, được dành cho một vở truyền kỳ. Trong khi phê bình Tỳ bà ký 琵 琶 記 của Cao Minh 高 明 (thế kỷ XIV), Mao Luân 毛 綸, cha của Mao Tông Cương, cho rằng vở Nam hý này phải được xếp nối theo với Tây sương ký, xứng đáng là đệ thất tài tử thư17. Sau khi tăng bổ Tỳ bà ký, danh sách bảy bộ tài tử thư trở nên tương đối cố định. Duyệt qua danh sách này, có thể thấy tài tử thư gồm cả tiểu thuyết lẫn hý kịch. Các bổ sung về sau buộc phải xếp từ hàng thứ 8 trở đi.

Sau Tỳ bà ký, ba tác phẩm Bạch khuê chí 白 圭 志, Trảm quỷ truyện 斬 鬼 傳 và Trụ xuân viên tiểu sử 駐 春 緣 小 史 được xếp vào hàng thứ 8, 9 và 10 trong tài tử thư18.

Tình Xuyên Cư 情 川 居 士 viết tựa cho Bạch khuê chí, kể lại rằng "Mùa hè năm Mậu Ngọ, ông Thôi ở Bác Lăng mang đến một bộ sách, tựa đề Bạch khuê chí, nhờ ta viết lời tựa", Tình Xuyên bình giá: "Nay sách của ông bàn chuyện thực hư, đều có thể lấy làm cái cho hậu thế noi theo. Thế nên để rõ nghĩa sách, ta viết lời bình luận, xếp vào hàng thứ tám trong tài tử thư, giao lại ông để khắc in"19.

Bài Nguyên tự đề năm Canh Tý đời Khang Hy (1720) viết cho Đệ cửu tài tử thư Trảm quỷ truyện mở đầu với đoạn đối thoại sau:

Khách hỏi ta rằng: "Đệ cửu tài tử thư vì cớ gì mà viết ?"

Ta bảo: "Dựa theo truyền kỳ mà viết"20.

Việc bài tựa viết cho Trảm quỷ truyện tự gọi tác phẩm này là đệ cửu tài tử thư cho thấy việc phân thứ hạng này là nối theo một bộ tài tử thư thứ 8 nào đấy đã được xác lập. Khác với những tác phẩm trong bảy bộ tài tử thư có trước, hai trường hợp vừa nêu cho thấy sách không còn đợi quá lâu để được định vị, mà được bình giá ngay bởi người cận hay đồng thời với tác giả. Khi những việc phong tặng này đã được công nhận rộng rãi, tác phẩm được bổ sung tiếp theo sau tất phải ở hàng thứ 1021. Danh sách 10 bộ tài tử thư được thành lập vào giai đoạn III của tiểu thuyết tài tử - giai nhân , ở khoảng cuối thế kỷ XVIII 22.

Danh sách thập tài tử thư nêu trên dường như không phải là duy nhất. Nhân liệt kê những xướng bản lưu hành ở Quảng Đông, hiện còn bảo tồn ở Sở nghiên cứu Ngữ ngôn - lịch sử thuộc Đại học Trung Sơn, Lâu Tử Khuông 婁 子 匡 có nhắc đến Đệ ngũ tài tử Ngọc trâm ký 玉 簪 記, Đệ bát tài tử Hoa tiên ký 花 箋 記, Đệ thập tài tử Kim tỏa uyên ương 金 鎖 鴛 鴦, và Đệ thập nhất tài tử Nhạn hấp môi 雁 翕 媒23. Các bộ tài tử được đề cập trong danh sách này đều thuộc trường thiên mộc ngư thư 長 天 木 魚 書 (cũng gọi là nam âm 南 音, hay đàn từ 彈 詞), một loại văn bản diễn xướng với âm nhạc24. Theo Lĩnh Nam tục văn học giản sử 嶺 南 俗 文 學 簡 史 còn có thể bổ sung thêm Đệ cửu tài tử thư Nhị hà hoa sử 二 荷 花 史 vào danh mục trên25. Chưa rõ bốn bộ tài tử thư đầu thuộc loại trường thiên mộc ngư thư là những bộ nào, nhưng rõ ràng đây là một hệ thống khác với tài tử thư ở phần trước bao gồm tiểu thuyết và hý kịch. Số lượng tiểu thuyết của trường thiên mộc ngư thư đã vượt quá 10, nhưng đây không phải là trường hợp cá biệt. Năm Giáp Ngọ đời Thanh Quang Tự 光 緒 (1894), bộ Hà điển 何典 do Quá Lộ Nhân 過 路 人 biên định được in lại ở Thượng Hải dưới nhan đề Thập nhất tài tử thư quỷ thoại liên biên lục 十 一 才 左 書 鬼 話 連 編 錄 26.

Dùng Hán thi để tập Kiều: các nguồn văn liệu

Tập Kiều bằng Hán thi là một hiện tượng xảy ra đã lâu, nhưng gần đây lại ít nhiều thu hút sự quan tâm của học giới trong nước. Năm 1996 trong bài viết trên Tạp chí Hán Nôm, Thế Anh có nói đến một bản tập Kiều theo lối này của Phan Mạnh Danh27. Năm sau, Nguyễn Tiến Đoàn lại giới thiệu bản "Tập Kiều" bằng thơ Hán cổ sưu tập được ở Thái Bình28. Năm 1998, Đào Thái Tôn cũng nhắc thêm là "ở Thái Bình hiện nay, có một bản tập Kiều mà mỗi câu chữ Hán đều có ghi xuất xứ nguồn thư tịch"29. Ở đây chúng tôi giới thiệu bản tập Kiều của Phan Mạnh Danh, đồng thời so sánh bản này với những dữ liệu do Nguyễn Tiến Đoàn cung cấp trong bài viết năm 1997, nhằm chỉ ra một số nét tiêu biểu của việc tập Kiều bằng Hán thi, đặc biệt là trình hiện nguồn văn liệu được sử dụng trong các bản tập Kiều này.

Phan Mạnh Danh là một trí thức, văn nhân đa tài ở cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX 30. Trong bài tiểu sử của Phan Mạnh Danh do Tử Tấn Đào Sỹ Nhã soạn năm 1943 có đoạn:

Năm 31 tuổi (1896), Tiên sinh (Phan Mạnh Danh) nghĩ ra lối Kiều - tập thơ - cổ theo điệu thơ - thổng của đào nương. Sau hơn 4 năm mài miệt, Tiên sinh đã làm ra được một tập hơn 60 bài liên cú và hơn 300 bài cách cú, nhan đề là Bút-hoa thi-thảo31.

Tập Bút hoa bao gồm hai lối tập thơ liên quan đến Kiều:

(1) Kiều tập thơ cổ (biên soạn 1896 - 1900, tăng bổ 1900 - 1941): Phần này lại chia làm hai bộ phận, một soạn theo "lối thơ thổng ả đào" và một theo "lối thơ thổng mới"32.

(2) Thơ cổ tập Kiều (cuối năm 1941): Thơ được tập theo "lối thơ thổng ả đào"33.

Cả hai lối tập thơ này đều sử dụng Hán thi như nguồn văn liệu, do vậy nêu rõ xuất xứ của văn liệu trở thành một nguyên tắc bắt buộc: "Bài thơ cổ nào, của thi sĩ nào, và trích ở sách nào, đều có chua rõ"34. Nguyên tắc này cũng đã được bản tập Kiều của Lễ bộ thị lang Nguyễn Tú do Nguyễn Tiến Đoàn giới thiệu (nay gọi tắt là "bản NT") tuân thủ triệt để35.

Một so sánh sơ bộ các dữ liệu từ bản NT và bản Bút hoa cho thấy:

(1) Không chỉ tự giới hạn trong phạm vi Hán thi Trung Hoa, cả hai bản đều sử dụng luật thi của thi nhân trong nước. Hai bản NT và Bút hoa dùng chung một câu trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, "Thiếp ý, quân tâm thùy đoản trường" để tập câu Kiều: "Nỗi ông vật vã, nỗi nàng thở than" 36. Ngoài trường hợp này, Bút hoa còn dùng thêm hai câu của Chinh phụ ngâm để tập Kiều37:

- Chinh phụ ngâm: Mộng khứ phản tăng chân cánh nhạn 夢 去 反 憎 真 更 鴈

Kiều: Dạy rằng "Mộng triệu có đâu ?"

- Chinh phụ ngâm : Ngữ phục ngữ hề chấp quân thủ 語 復 語 兮 執 君 手

Kiều: Cầm tay dài ngắn thở than.

Đáng chú ý là Bút hoa (và bản NT ?) dùng cả thơ của Hồ Tông Thốc chép trong Truyền kỳ mạn lục để tập Kiều38.

Hồ Tông Thốc, Đề Hạng vương từ: Kinh doanh ngũ tải thành hà sự ? 經 營 五 載 成 何 事

Kiều: Năm năm giời bể ngang tàng39.

(2) Nhìn chung, bản NT và Bút hoa thường tập thơ giống nhau. Để tập hai câu Kiều "Trướng tô giáp mặt hoa đào - Vẻ nào chẳng mặn, nét nào chẳng ưa" cả bản NT lẫn Bút hoa đều dùng chung hai câu thơ trích từ Tình sử 40; tương tự, để tập 4 câu Kiều "Ngày xuân con én đưa thoi - Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi - Cỏ non xanh rợn chân trời - Cành lê trắng điểm một vài bông hoa", bản NT và Bút hoa đều dùng cùng các câu thơ trích ra từ Tống thi, Đường biệt tài, và Thi lâm41.

3) Điểm qua các nguồn văn liệu của bản NT và Bút hoa , có thể thấy ngay được sự dị biệt: bản NT sử dụng một số tác phẩm không thấy trong Bút hoa, ví như Bình quỷ, Hiếu thuật, Tùy lệnh; ngược lại, cũng có những tác phẩm không có mặt trong bản NT, nhưng lại hiện diện ở Bút hoa, ví như (Tiết Nhân Quý) Chinh đông, Chinh tây, Tân liêu trai.

(4) Dẫu không hoàn toàn đồng nhất, về đại thể, nguồn văn liệu của bản NT và Bút hoa khá giống nhau. Truyện Kiều là một bộ tiểu thuyết bằng thơ, do vậy ngoài việc sử dụng các thi liệu từ các tập Thi lâm, Đường biệt tài, Tống thi, Minh biệt tài, Thanh biệt tài, tiểu thuyết là một nguồn tư liệu quan trọng. Tần số xuất hiện cao của hai bộ Thi lâm (116) và Tình sử (102) trong Bút hoa chứng thực cho nhận định này42. Tiểu thuyết thường "có thơ làm chứng" (hữu thi vi chứng) cho các tâm trạng, tình tiết cụ thể, hoặc dùng thơ để "mở đầu - khái quát" hay "kết thúc - tổng kết" cho từng chương, là một nguồn tư liệu tiện dụng trong việc tập truyện thơ Kiều43.

(5) Trong cả hai bản NT và Bút hoa đều có sự hiện diện của một loạt các bộ sách tài tử. Đáng lưu ý là ở cả hai bản tập Kiều khảo sát ở đây, thập tài tử là điểm dừng chung cục.

Nhân diện sách tài tử trong Bút hoa

Bút hoa có Nhị, Tam, Thất, Bát, Cửu, và Thập tài tử. Căn cứ vào nội dung và hình thức các câu thơ lẩy ra từ các bộ này, chúng tôi không dùng lục tài tử thư của Kim Thánh Thán, mà dùng danh sách 10 bộ tài tử thư bao gồm tiểu thuyết và hý kịch (có tham khảo thêm các bộ tài tử thư - đàn từ) để truy nguyên. Kết quả hiện có như sau:

- Tam tài tử chính là Ngọc Kiều Lê . Để tập câu Kiều "Hóa nhi thật khéo nỡ lòng", Bút hoa dùng câu "Tạo hóa tiểu nhi thái vô nạ i 造 化 小 兒 太 無 奈 "lẩy ra từ bài tứ tuyệt cuối chương 17; hay câu "Bất hứa nhân gian hữu bất bằng 不 許 人 間 有 不 平" để tập câu Kiều "Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha" là từ bài Trì hoành đồ 持 衡 圖 hồi 13 trong bộ tiểu thuyết44. Bút hoa đều gọi bộ tiểu thuyết này bằng hai tên: Ngọc Kiều Lê và Tam tài tử45. Sự hiện diện của Tam tài tử cho phép nghĩ đến sự tồn tại của đệ tứ tài tử - Bình Sơn Lãnh Yến.

- Bát tài tử chính là Hoa tiên ký. Có thể kể ra một vài ví dụ để khẳng định: các câu Kiều "Đã nguyền hai chữ đồng tâm", "Nước trôi, hoa rụng đã yên" và "Trăm năm danh tiết cũng vì đêm nay" được tập với "Bách niên duy nguyện thủ đồng tâm 百 年 惟 願 守 同 心", "Lạc hoa lưu thủy dã đồ nhiên 落 花 流 水 也 徒 然 ", "Bách niên sự tại kim tiêu định 百 年 事 在 今 宵 定" trong các hồi Thệ biểu chân tình 誓 表 真 情, Ngộ tỳ trần tình 遇 婢 陳 情46. Bút hoa gọi bộ đàn từ này bằng hai tên: Hoa tiên và Bát tài tử47. Việc truyền nhập của đàn từ vào Việt Nam và ảnh hưởng của nó đối với truyện Nôm là những vấn đề đáng lưu tâm. Ngoài Hoa tiên ký được Nguyễn Huy Tự (1743 - 1790) diễn Nôm thành Hoa tiên truyện, Phan Trần truyện ở ta cũng đã là dựa vào đệ ngũ tài tử thư đàn từ Ngọc trâm ký mà sáng tác48. Bút sinh hoa 筆 生 花 được cả bản NT và Bút hoa sử dụng chính là một bộ đàn từ của Khâu Tâm Như 邱 心 如 ở Hoài Âm49.

- Thập tài tử chính là Trụ xuân viên tiểu sử. Chẳng hạn các câu "Minh tồn ninh luận tử hòa sinh 盟 存 寧 論 死 和 生" (Khai tông minh nghĩa 開 宗 明 義), "Nghĩ trục hành vân vô định chỉ 擬 逐 行 雲 無 定 止" (hồi 4), "Tâm sự nhất xoang thôn dục thổ 心 事 一 腔 吞 欲 吐” (hồi 10) được dùng để tập với các câu Kiề sau: "Cũng toan sống thác với tình cho xong", "Phải điều ăn xổi ở thì" và "Nỗi riêng riêng những bàn hoàn"50. Cũng như hai trường hợp trước, Bút hoa gọi bộ tiểu thuyết này bằng hai tên: Trụ xuân và Thập tài tử 51.

Nếu như trong bước đầu tiếp xúc với nguồn văn liệu dùng trong Bút hoa, hiện tượng gọi một bộ tiểu thuyết bằng hai tên như vừa trình bày khiến người đọc do dự, không thể khẳng định những bộ tài tử được dùng để chỉ những sách nào, nay nhờ vào các cứ liệu hiện có, có thể quay lại nối kết Hảo cầu với Nhị tài tử 52, Tỳ bà ký với Thất tài tử 53.

Đến đây đã có thể tạm kết luận về 10 bộ sách tài tử được nhắc đến trong Bút hoa (và trong bản NT) như sau: (1) [Tam quốc diễn nghĩa], (2) Hảo cầu truyện (?), (3) Ngọc Kiều Lê, (4) [Bình Sơn Lãnh Yến]54, (5) Thủy hử56, (6) Tây sương56, (7) Tỳ bà ký (?), (8) Hoa tiên ký, (9) Trảm quỷ truyện / Nhị hà hoa (?), (10) Trụ xuân viên tiểu sử.

Tiểu kết

Tài tử thư là khái niệm không cố định, thường thu hẹp hoặc mở rộng nội hàm và khá phức tạp do nó luôn có xu hướng tiếp nhận thêm nhân tố mới. Trong quá trình phát triển của nó, càng về sau tài tử thư càng nặng về tiểu thuyết tài tử, giai nhân. Khi được du nhập vào Việt Nam, Thập tài tử thư là sự hòa phối giữa danh sách tài tử thư tiểu thuyết - hý kịch với tài tử thư đàn từ. Hiện chưa rõ thập bát tài t lưu hành ở nước ta là những sách nào, nhưng có thể nói rằng trong 10 bộ tài tử thư ở Bút hoa (và bản NT) không có Kim Vân Kiều truyện. Những kết quả khảo sát ở trên củng cố cho nhận định này.

CHÚ THÍCH

1. Giả Sinh: tức Giả Nghị 賈 誼 (thế kỷ II TCN), nhà thơ và tác giả sách Tân thư 新 書.

2. Ở bài "Độc đệ lục tài tử thư Tây sương ký pháp 讀 第 六 才 子 書《 西 廂 記》法” (phép đọc bộ tài tử thư thứ sáu - Tây sương ký), Thánh Thán viết: "Tôi vì các con và các cháu, muốn cho chúng biết viết văn, có nhặt ở trong Tả truyện, Chiến quốc sách, Trang Tử, Ly tao, Công cốc, Sử ký, Hán thư cùng các văn của Hàn, Liễu, Tam Tô, tất cả hơn một trăm bài, đề là Tài tử tất độc thư, vẫn muốn đem in, nhưng chẳng may gặp loạn, nhà nghèo không đủ tiền" (Vương Thực Phủ, Mái tây (Tây sương ký), bản dịch của Nhượng Tống, in lần thứ ba, Tân Việt, (năm ?), tr.365).

3. Đường tài tử thư còn gọi là Đường thi chú thích 唐 詩 註 釋

4. Quán hoa đường là thư viện riêng của một người bạn của Kim Thánh Thán. Do Kim Thánh Thán phát hiện một cổ bản truyện Thủy hử tại thư viện này và gọi đó là Quán hoa đường nguyên bản Thủy hử truyện 貫 華 堂 原 本 水 滸 傳; do vậy, người đời sau lầm tưởng Quán hoa đường là thư viện riêng của Kim. Xem John Ching-yu Wang, Chin Sheng-tan, TWAS 230, New York, 1972, tr.132, chú 30. Quán hoa đường tài tử thư bao gồm các tác phẩm: Đỗ thi giải 杜 詩 解 , Trầm ngâm lâu bị Đỗ thi 沉 吟 樓 備 杜 詩 , Tả truyện thích 左 傳 釋 , Cổ thi nhị thập thủ giải 古 詩 二 十 首 解, Thích tiểu nhĩ 釋 小 爾, Mạnh Tử thích 孟 子 釋 , Thông tông dịch luận 通 宗 易 論, Ngữ lục nội toản 語 錄 內 纂, Thánh nhân thiên án 聖 人 千 案 và Phê Âu Dương Vĩnh Thúc từ 批 甌 陽 永 叔 詞. Xem Quách Xương Hạc 郭 昌 鶴 , "Tài tử, giai nhân tiểu thuyết nghiên cứu 才 子 佳 人 小 說 研 究" (phần thượng), Văn học quý khan , số 1/1934, tr. 194.

5. Trung Quốc lịch đại tiểu thuyết tự bạt tập 中 國 歷 代 小 說 序 跋 集, 3 tập, Đinh Tích Căn 丁 錫 根 biên trứ, Nhân dân văn học xuất bản xã, Bắc Kinh, 1996, tập trung, tr.897.

6. Trong bài tựa cho Tam quốc diễn nghĩa 三 國 演 義 đề năm 1679, Lý Ngư 李 渔 (1611 - 1680) đề cập đến hai danh sách tứ đại kỳ thư: một của Vương Thế Trinh và một của Phùng Mộng Long (1574 - 1646). Bốn bộ kiệt tác trong danh sách của Phùng là Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử truyện, Tây du ký 西 遊 記 và Kim Bình Mai 金 瓶 梅. Xem Rolston, David (biên tập), How to Read the Chinese Novel (cách đọc tiểu thuyết Trung Quốc), Princeton Uviversity Press, New Jersey, 1990, tr. 84, chú thích 14.

7. Trung Quốc lịch đại tiểu thuyết tự bạt tập, sđd, tr. 897

8. Trung Quốc lịch đại tiểu thuyết tự bạt tập, sđd, tr. 899

9. Nguyên văn Hán văn: "Ngô vị tài tử thư chi mục, nghi dĩ Tam quốc diễn nghĩa vi đệ nhất 吾 謂 才 子 書 之 目 ,宜 以 《 三 國 演 義》 為 第 一 " Xem Mao Tông Cương, "Độc Tam quốc chí pháp 讀 《三 國 志》法 trong Trung Quốc lịch đại tiểu thuyết tự bạt tập, sđd, tr.933.

10. Hội chân ký (hay còn gọi là Oanh Oanh truyện 鶯 鶯 傳) của Nguyên Chẩn 元 稹 (799 - 831) thuật chuyện tình của Trương Sinh 張 生 và Thôi Oanh Oanh 崔 鶯 鶯 . Dựa theo truyện này, Vương Thực Phủ 王 寔 甫 đời Nguyên viết vở Tây sương ký, được Kim Thánh Thán xếp vào hàng thứ sáu trong tài tử thư.

11. Xem Lâm Chấn 林 振, Minh mạt - Thanh sơ tiểu thuyết thuật lụ c 明 末 清 初 小 說 述 錄, Xuân phong văn nghệ xuất bản xã, Liêu Ninh, 1988, tr.55.

12. Xem Miêu Tráng 苗 壯, Tài tử giai nhân tiểu thuyết sử thoại 才 子 佳 人 小 說 史 話, Liêu Ninh giáo dục xuất bản xã, Thẩm Dương, 1993, tr. 3- 4.

13. Sau khi điểm qua các ý kiến của Lỗ Tấn 魯 迅, Đàm Chính Bích 譚 正 璧, Tần Mạnh Tiêu 秦 孟 瀟 và Mạnh Dao 孟 瑤 về tiểu thuyết tài tử - giai nhân, Trần Quang Huy có nhận xét chung là loại tiểu thuyết này thuần miêu tả chuyện tình của thư sinh tài hoa với giai nhân khuê các. Xem Trần Quang Huy 陳 光 輝 , Việt Nam nôm truyện dữ Trung Quốc tiểu thuyết quan hệ chi nghiên cứu 越 南 喃 傳 與 中 國 小 說 關 係 之 研 究, Luận văn tiến sĩ, 2 tập, Đài Loan, tập 2, tr.200, chú thích 1.

14. Xem Hảo cầu truyện 好 求 傳, Thành Bách Tuyền 成 柏 泉 hiệu chú, Thượng Hải văn hóa xuất bản xã, Thượng Hải, 1956, phần "Tiền ngôn" tr.1-5.

15. Thiên Hoa Tàng chủ nhân hoặc thuật sự, hoặc đề tựa cho mười sáu tác phẩm sau: (1) Ngọc Kiều Lê. (2) Bình Sơn Lãnh Yến; (3) Lưỡng giao hôn 兩 交 婚; (4) Họa đồ duyên 畫 圖 緣; (5) Kim Vân Kiều truyện 钅 雲 翹 傳 (6) Phi hoa vịnh 飛 花 詠 ; (7) Trại hồng ti 寨 紅 絲; (8) Định tình nhân 定 情 人; (9) Ngọc chi cơ 玉 支 璣; (10). Huyễn trung chân 幻 中 真; (11) Lân nhi báo 麟 兒 報; (12). Nhân gian lạc 人 間 樂(13) Cẩm nghi đoàn 錦 疑 團 ; (14) Lương vũ Đế diễn nghĩa 梁 武 帝 演 義; (15) Tế Điên đại sư túy bồ đề 濟顛 代 師 醉 菩 啼; và (16) Hậu Thủy hử truyện 後 水 滸 傳 .

16. Xem Lâm Chấn 林 振, Thiên Hoa Tàng chủ nhân cập kỳ tiểu thuyết 天 花 藏 主 人 及 其 小 說, Liêu Ninh giáo dục xuất bản xã, Thẩm Dương, 1993, tr.17-19.

17. Xem Rolston, David (biên tập), How to Read the Chinese Novel, sđd, tr.84, chú thích 14.

18. Bạch khuê chí: tiểu thuyết 16 hồi của Bác Lăng Thôi Tượng Xuyên 博 陵 崔 象 川 đời Thanh, thuật chuyện phú hộ Trương Bác 張 博 ở Kiết An, Giang Tây bị Trương Hoành 張 宏 trấn nước chết, sang đoạt tài sản. Trương Bác có hai con, trai Đình Thụy 庭 瑞 và nữ Lan Anh 蘭 英. Khi Đình Thụy vào kinh ứng thí, Lan Anh cũng cải nam trang đi thi, kết bạn với Vũ Kiến Chương 武 建 章. Đình Thụy quen và yêu Cúc Anh 菊 英- con gái Dương Tuần phủ bị Trương Mỹ Ngọc 張 美 玉 - con trai Trương Hoành quấy nhiễu. Trương Bác chết mà hồn không siêu thoát, thác mộng, mượn ngọc bạch khuê cáo oan với Dương Tuần Phủ. Sự việc tỏ lộ, cha con Trương Hoành bị trừng phạt. Đình Thụy thành hôn với Cúc Anh, Lan Anh sánh duyên cùng Kiến Chương. Truyện được xếp vào đệ bát tài tử thư (xem Bác Lăng Thôi Tượng Xuyên, Bạch khuê chí, Xuân phong văn nghệ xuất bản xã, Liêu Ninh, 1985, lời thuyết minh đấu sách), nhưng cũng có lúc lại xếp vào hàng thứ 10, như bản Kỷ Hiểu Lam bình đệ thập tài tử thư 紀 曉 嵐 平 第 十 才 子 書 (xem Hầu Kiện 候 健 (chủ biên), Trung Quốc tiểu thuyết đại từ điển 中 國 小 說 大 辭 典, tác gia xuất bản xã, Bắc Kinh, 1991, tr.422).

Trảm quỷ truyện: tiểu thuyết 10 hồi của Lưu Chương 劉 章 đời Thanh - Khang Hy, dựa theo truyền thuyết dân gian, thuật truyện Tú tài Chung Quỳ 鍾 馗 dưới đời Đường Đức Tông. Chung Quỳ tuy xấu mà tài hoa, đảm lược, thi đỗ hàng đầu. Đức Tông thấy Chung diện mạo xấu xí, không dùng. Chung bị gièm pha nên tự vẫn. Đức Tông thấy thế tỉnh ngộ, phế trừng gian nịnh, phong Chung làm Khu ma đại thần 驅 魔 大 神. Từ đó, Chung hiển ứng trừ ma, chém quỷ, xuống tận Địa Phủ trừng trị lũ gian nịnh từng hại mình trên trần thế trước kia. Dù rằng Lưu Chương, dưới bút danh Yên Hà Tản Nhân 煙 霞 散 人 và Tiều Vân Sơn Nhân 樵 雲 山 人 cũng là tác giả của nhiều bộ tiểu thuyết tài tử - giai nhân (ví như Phi hoa diễm tưởng 飛 花 艷 想 , Phượng hoàng trì 鳳 凰 池 , bản thân Trảm quỷ truyện không thuộc loại tiểu thuyết này. Vương Thanh Bình 王 青 平 gọi Trảm quỷ truyện là giọng mào đầu cho tiểu thuyết phúng thích ở Trung Quốc, đồng thời cũng chỉ ra tình hình văn bản tương đối phức tạp của truyện (xem Lưu Chương, Trảm quỷ truyện, Vương Thanh Bình khảo thuật, Bắc Nhạc văn nghệ xuất bản xã, Sơn Tây, 1989, tr.274-371). Trảm quỷ truyện và Bình quỷ truyện 平 鬼 傳 thường được xếp chung thành Chung Quỳ truyện (xem Yên Hà Tản Nhân, Vân Trung Đạo Nhân, Chung Quỳ truyện Trường Giang văn nghệ xuất bản xã, Hồ Bắc, 1980).

Trụ xuân viên tiểu sử: tiểu thuyết 24 hồi của Ngô Hàng Dã Khách 吳 航 野 客 đời Thanh sơ, thuật chuyện hai mỹ nữ Vân Nga 雲 娥 và Lục Quân 綠 筠 cùng kết hôn với tài tử học sĩ Hoàng Giới 黃 王介. Dù được gọi với nhiều tên khác nhau, chẳng hạn như Lục Vân duyên 綠 雲 緣 , Nhất tiếu duyên 一 笑 緣 , truyện luôn giữ vị trí ổn định thứ 10 trong tài tử thư. Xem Ngô Hàng Dã Khách, Trụ xuân viên tiểu sử, Triệu Hà 趙 霞 hiệu điểm, trong Minh Thanh ngôn tình tiểu thuyết đại quan 明 清 言 情 小 說 大 觀, 3 tập, Đoàn Quốc Quang 團 國 光 và Diệp Quân Viễn 葉 君 遠 chủ biên, Hoa hạ xuất bản xã, Bắc Kinh, 1993, tập trung, tr.833 - 906.

19. Bác Lăng Thôi Tượng Xuyên, Bạch khuê chí, Xuân Phong văn nghệ xuất bản xã, sđd, lời tựa. Các nhà nghiên cứu Trung Quốc cho rằng năm Mậu Ngọ ở đây ứng vào năm 1798. Xem Lưu Thế Đức 劉 世 德 (chủ biên), Trung Quốc cổ đại tiểu thuyết bách khoa toàn thư 中 國 古 代 小 說 百 科 全 書, Trung Quốc đại bách khoa toàn thư xuất bản xã, Bắc Kinh, 1993, tr.5. Lâm Chấn cho rằng sách được xếp vào hàng thứ 8 trong tài tử thư là căn cứ theo 8 nhân vật chủ yếu trong truyện, nhưng không nói rõ 8 nhân vật ấy là những ai. Xem Lâm Chấn 林辰, Minh mạt - Thanh sơ tiểu thuyết thuật lục sđd, tr.163.

20. Xem Lưu Chương, Trảm quỷ truyện, Vương Thanh Bình khảo thuật, sđd, tr. 254.

21. Lâm Chấn căn cứ vào bài tựa do Thủy Nhược Tản Nhân 水 若 散 人 viết ở Oản Hương Trai đề năm Càn Long Nhâm Dần đoán định rằng danh sách 10 bộ tài tử thư phải hình thành sau năm 1782. Xem Lâm Chấn 林 辰 , Minh mạt - Thanh sơ tiểu thuyết thuật lục sđd, tr.163.

22. Theo Miêu Tráng, có thể chia tiến trình phát triển của tiểu thuyết tài tử - giai nhân thành 4 giai đoạn:

- Giai đoạn 1 trong khoảng Sùng Trinh 崇 禎 (1628-1644) và Thuận Trị 順 治 (1644-1661): Tuy số lượng tác phẩm không nhiều, nhưng các truyện sáng tác trong giai đoạn này có ảnh hưởng rất lớn đối với toàn bộ quá trình phát triển của loại hình. Các tác phẩm tiêu biểu: Cổ chưởng tuyệt trần 鼓 掌 絕 塵 của Ngô Kim Mộc Tản Nhân 吳 金 木 散 人 , Ngọc Kiều Lê, Bình Sơn Lãnh Yến.

- Giai đoạn 2 chủ yếu dưới triều Khang 康 熙 (1662 - 1722), Ung Chính 雍 正 (1723 - 1735), và Càn Long 乾 隆 (1736 - 1795): Do tình hình xã hội tương đối ổn định, lại dựa trên cơ sở của thời kỳ trước, tiểu thuyết giai đoạn này phát triển cả về số lượng (ước tính có đến 50 bộ, chiếm một nửa tổng số tiểu thuyết tài tử - giai nhân) và chất lượng, có thể xem là thời toàn thịnh. Các bộ tiểu thuyết tiêu biểu: Định tình nhân, Lưỡng giao hôn, Phi hoa vịnh, Họa đồ duyên, Hồng trại ti, Lân nhi báo, Cẩm nghi đoàn, Kim Vân Kiều truyện.

- Giai đoạn 3 trong khoảng Càn Long, Gia Khánh 嘉 慶 (1796 - 1820), và Đạo Quang 道 光 (1821 - 1850): có thể gọi là giai đoạn tiếp nối. Do ảnh hưởng của Hồng lâu mộng 紅 樓 夢 tiểu thuyết tài tử - giai nhân ở giai đoạn này đi sâu vào miêu tả ái tình, phản ánh sinh hoạt xã hội, và trình độ nghệ thuật cũng được đề cao. Cũng cần nhắc thêm rằng đây cũng là thời của các bộ tiểu thuyết tục thư 續 書 sáng tác nối theo Hồng lâu mộng.

- Giai đoạn 4 (sau Chiến tranh nha phiến): lịch sử Trung Quốc chuyển vào thời cận đại, xã hội chuyển biến nhanh chóng, tác giả ra sức vạch mặt các thế lực hắc ám, lay tỉnh dân tộc. Tiểu thuyết ái tình mất đi vị trí trọng yếu, nhưng vẫn còn một số tác phẩm diên trì mạch sáng tác của tiểu thuyết tài tử, giai nhân. Thay vì miêu tả tiểu thư khuê các, các bộ tiểu thuyết này chuyển sang miêu tả các cuộc tao ngộ tri âm ở chốn thanh lâu, hòa lẫn với dòng văn học kỹ nữ.

Xem Miêu Tráng 苗 壯 , Tài tử - giai nhân tiểu thuyết sử thoại, sđd, tr.11 - 38.

23. Lâu Tử Khuông, Ngũ thập niên lai đích Trung Quốc tục văn họ 五 十 年 來 的 中 國 俗 文 學 , Chính Trung thư cục, Đài Bắc, 1963, tr.219 - 220.

24. Về mộc ngư thư, xem Dương Gia Lạc 楊 家 駱 (chủ biên), Trung Quốc tục văn học, Thế giới thư cục, Đài Bắc, 1995, tr.107-114.

25. Diệp Xuân Sinh 葉 春 生, Lĩnh Nam tục văn học giản sử, Quảng Đông cao đẳng giáo dục xuât bản xã, Quảng Châu, 1996, tr.65.

26. Xem Lưu Thế Đức 劉 世 德 (chủ biên), Trung Quốc cổ đại tiểu thuyết bách khoa toàn thư, sđd, tr.153

27. Thế Anh: "Một bản dịch Truyện Kiều độc đáo", Tạp chí Hán Nôm, 1/1996

28. Nguyễn Tiến Đoàn: "Phát hiện một bản Kiều mang màu sắc truyền kỳ", Tạp chí Hán Nôm, 3/1997, tr.70-77.

29. Đào Thái Tôn: "Không có 'Bản kinh' Truyện Kiều do vua Tự Đức đưa in", Tạp chí Văn họ c 2/1998, tr.28, chú thích 7.

30. Phan Mạnh Danh (1866 - 1942) tên chữ là Trung, sau đổi là Mạnh Danh, con trưởng thị độc Phan Trác Hoạt, cháu Hoàng giáp Phan Trứ. Ông người làng Phù Ủng, phủ Ân Thi, huyện Hưng Yên. Tác phẩm gồm có Phù giang thi tập (viết trong khoảng 1885 - 1942), Phù giang văn tập, Bút hoa, Cổ thi trích dịch (1935 - 1940), Việt Nam danh nhân diễn ca (văn Nôm lục bát 1909), Vật lý học lớp tiểu học (Nôm, 1909) Ngũ đại châu địa dư (chữ Hán, 1909), Vạn vật học (chữ Hán, 1910), Tuồng Hoa tiên (1917), Đa tình hận (dịch của Từ Trẩm Á, 1919), Tình sử (dịch của Long Tử Do, 1920), Điển cố (Nôm, khởi thảo 1941).

31. Phan Mạnh Danh, Bút hoa - Thơ tập cổ, Nhà in Phạm Văn Sơn, Saigon, 1962, tr.9. Đào Sỹ Nhã cũng nêu rõ mức độ phổ biến của tập sách: "Tập ấy ngay từ hồi mới soạn xong, đã được các danh sỹ đề thơ, như cụ Nguyễn Tấn Cảnh, cụ Chu Mạnh Trinh, cụ Phạm Văn Thụ, cụ Trần Tán Bình, cụ Vũ Tuân; lại được nhiều người chép ra để lưu hành cả trong Nam ngoài Bắc. Sau Tiên sinh nhiều lần sửa chữa lại, thêm thắt vào, lựa chọn ra, thành một bản tinh tế hơn. (...) Bản ấy có đệ trình phủ Thống sứ để toan in ra ngay từ hồi Âu chiến (1914 - 1918), sau lại thấy đăng trên báo chương, như Tứ dân tạp chí, Hải phòng tuần báo, vân vân. Mãi đến năm 1942 mới in thành sách" (tr.9).

Theo Nguyễn Tiến Đoàn, các bản tập Kiều "bằng thơ Hán cổ" giới thiệu trong bài viết của ông là do "cụ nội ông Tấn (Nguyễn Doãn Tấn) là Nguyễn Doãn Cử (1821- 1890) nguyên là giảng quan ở phủ Tôn Nhân, kiêm Quốc sử quán Biên tu triều Tự Đức, khi về hưu đã mang về và được gia đình lưu giữ cho đến hôm nay". (Nguyễn Tiến Đoàn: "Phát hiện một bản Kiều mang màu sắc truyền kỳ", bđd, tr.70). Nếu thế, lối tập Kiều bằng luật thi Hán văn hẳn đã có trước đó, sau được Phan Mạnh Danh kế thừa và phát triển.

32. Lối thơ thổng ả đào "Theo lối này thì lẩy trong các sách Tàu ra mỗi chỗ một câu thơ rồi ghép lại thành một bài thơ tứ tuyệt đủ niêm luật; mỗi bài thơ ấy đọc vần xuống bốn câu Kiều liền, mà bốn câu Kiều liền này lại hình như dịch nghĩa những câu thơ chữ ấy ra. Dùng đủ ba mươi vần bằng từ vần nhất đông đến vần thập ngũ hàm". Ví như:

Lưu thủ dư tình bổ hóa công (Liêu trai)

Hồng nhan lưu lạc hận nan cùng (Bách mỹ)

Sinh tiền cá cá thuyết ân ái (Kim cổ kỳ quan)

Mệnh lý vô thời tổng thị không (Thăng bình truyện)

Phũ phàng chi bấy hóa công,

Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha

Sống làm vợ khắp người ta

Hại thay ! Thác xuống làm ma không chồng.

(Phan Mạnh Danh, Bút hoa - Thơ tập cổ, sđd, tr.53).

Lối thơ thổng mới: "Theo lối này thì lẩy trong các sách Tàu ra mỗi chỗ một câu thơ, rồi đem hai câu ghép lại với nhau, đọc vần xuống hai câu Kiều liền; kế đến hai câu thơ chữ lẩy nữa, lại đọc vần với hai câu Kiều liền nối theo. (...) Các bài đều xếp đặt trước sau theo thứ tự trong truyện Kiều". Ví như:

Nhân sự bách niên kham thế lệ (Thi lâm)

Toán lai tăng mạnh vị tài đa (Nhi nữ tình)

Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

(Phan Mạnh Danh, Bút hoa - Thơ tập cổ, sđd, tr.77).

33. Thơ cổ tập Kiều - Lối thơ thổng ả đào: "Theo lối này thì chọn lấy nguyên một bài thơ cổ thất ngôn tứ tuyệt trong sách Tàu, đọc vần xuống bốn câu Kiều lẩy, mà những câu Kiều lẩy lại dùng để phiên dịch bài thơ cổ kia". Ví như:

Ký Quân Thụy

(Oanh Oanh, Tây sương)

Tự tòng tiêu sấu giảm dung quang

Vạn chuyển thiên hồi lãn hạ sàng

Bất vị bàng nhân tu bất khởi

Vị lang tiều tụy khước tu lang.

Mặt sao dày gió dạn sương

Quá chiều nên đã chán chường yến anh

Nghĩ người thôi nghĩ tại mình

Trông hoa đèn chẳng thẹn mình lắm ru ?

(Phan Mạnh Danh, Bút hoa - Thơ tập cổ, sđd, tr.143).

34. Phan Mạnh Danh, Bút hoa - Thơ tập cổ , sđd, tr.143.

35. Nguyễn Tiến Đoàn, "Phát hiện một bản Kiều mang màu sắc truyền kỳ", bđd.: "Xưa nay những người tập Kiều, tập cổ thường không ghi xuất xứ từng câu thơ trích ở sách nào và ghi lạc khoản như bản này. Có thể đoán định người sưu tập muốn phục vụ cho một tiêu chí, một mục đích nào đó". (tr.73). Căn cứ theo lời thuật lại của ông Nguyễn Doãn Khiết, tác giả bài viết cho biết Thị lang Bộ Lễ triều Minh Mệnh Nguyễn Tú "cùng 16 người trong Bộ Lễ" vâng chỉ Minh Mệnh, "trong một năm phải sưu tầm hoàn chỉnh cuốn Kiều", "phải dẫn những câu nào của Kiều rút từ sách nào, điển cố nào phải ghi rõ xuất xứ". Bản Tập Kiều cổ Hán thi được soạn để "góp vào phần chú thích" cho bộ Truyện Kiều trên. bđd, tr.74). Chúng tôi cho rằng vấn đề ghi xuất xứ văn liệu khi dùng thơ ca Trung Quốc tập Kiều (hay dùng Kiều tập thơ cổ Trung Hoa) cũng có thể giải thích theo hướng đơn giản hơn như đã nêu trong phần chính văn.

36. Để tập câu 1999 "Biết bao đoạn khổ tình thương", bản NT dùng câu "Mang mang

khan tận bi sầu khổ" trong Hồng lâu mộng, trong khi Bút hoa dùng câu "Thương tình khổ hận tri đa thiểu" của Ngọc thiềm. Xem Nguyễn Tiến Đoàn: "Phát hiện một bản Kiều mang màu sắc truyền kỳ", bđd, tr.72; Phan Mạnh Danh, Bút hoa - Thơ tập cổ, sđd, tr.128.

37. Phan Mạnh Danh, Bút hoa - Thơ tập cổ, sđd, tr.88 và 117.

38. Trong danh mục văn liệu dùng trong bản NT, Nguyễn Tiến Đoàn có kể đến Đề Hạng vương, nhưng tiếc là ông không cho dẫn văn nên không thể có kết luận chắc chắn về việc bản NT có dùng thơ Hồ Tông Thốc hay không. Xem Nguyễn Tiến Đoàn: "Phát hiện một bản Kiều mang màu sắc truyền kỳ", bđd, tr.72.

39. Phan Mạnh Danh, Bút hoa - Thơ tập cổ, sđd, tr.134; Nguyễn Dữ, Truyền kỳ mạn lục, bản dịch của Trúc Khê Ngô Văn Triện, Nxb. Văn học, H. 1971, tr.13.

40. Nguyễn Tiến Đoàn: "Phát hiện một bản Kiều mang màu sắc truyền kỳ", bđd, tr.72; Phan Mạnh Danh, Bút hoa - Thơ tập cổ, sđd, tr.114.

41. Nguyễn Tiến Đoàn: "Phát hiện một bản Kiều mang màu sắc truyền kỳ", bđd, tr.72-73; Phan Mạnh Danh, Bút hoa - Thơ tập cổ, sđd, tr.79.

42. Bản NT cũng dùng Thi lâm và Tình sử nhưng không rõ tần số sử dụng như thế nào.

43. Trong sách Cổ đại tiểu thuyết dữ thi từ 古 代 小 說 與 詩 詞 (Liêu Ninh giáo dục xuất bản xã, Thẩm Dương, 1993), Lâm Chấn phân việc sử dụng thi ca trong tiểu thuyết thành 10 loại: 1. Khai thiên đề hồi 開 篇 題 回; 2. Lược thuật Kết cấu tình tiết 結 構 情 節; 3. Miêu tả nhân vật Tiêu tượng khắc họa 肖 像 刻 書; 4. Cảnh vật miêu tả 景 物 描 寫; 5. Dự báo tình tiết 預 報 情 節; 6. Tác giả bình nghị 作 者 評 議 7. Nhân vật biểu lộ tâm trạng Nhân vật tự trữ 人 物 自 抒; 8. Bộ lộ tài hoa của nhân vật (hay tác giả) Nhàn tình sính tài 閑 情 逞 才; 9. Dùng trong đối ngữ, câu đố, tửu lệnh Doanh liễn tửu mê 楹 聯 酒 謎 và 10. Tổng kết toàn thư 總 結 全 書.

44. Phan Mạnh Danh: Bút hoa - Thơ tập cổ, sđd, tr.110 và 133: Địch Ngạn tản nhân 荻 岸 散 人, Ngọc Kiều Lê, trong Minh Thanh ngôn tình tiểu thuyết đại quan 明 清 言 情 小 說 大 觀, Ân Quốc Quang 殷 國 光, Diệp Quân Viễn 葉 君 遠 chủ biên, 3 tập, Hoa hạ xuất bản, Bắc Kinh, 1993, tập trung, tr.251 và 218.

45. Phan Mạnh Danh, Bút hoa - Thơ tập cổ, sđd, "Ngọc Kiều Lê" tr.96 và "Tam tài tử" tr.110, 133, 136. Bản NT cũng có cả Ngọc Kiều Lê lẫn Tam tài tử trong số văn liệu.

46. Hoa tiên ký, Trần Nhữ Hoành 陳 汝 衡hiệu đính, Quảng Đông nhân dân xuất bản xã, 1957 (?), tr.28, 17 và 27.

47. Phan Mạnh Danh, Bút hoa - Thơ tập cổ, sđd, "Hoa tiên" tr.63, 65, 67, 89, 92, 97, 123 và "Bát tài tử" tr.66, 75, 88, 91, 120, 127, 135, 138, 139. Bản NT cũng có cả Hoa tiên lẫn Bát tài tử.

48. Trần Quang Huy: Việt Nam Nôm truyện dữ Trung Quốc tiểu thuyết quan hệ chi nghiên cứu, sđd. tr.251-259.

49. Dương Gia Lạc: Trung Quốc tục văn học, sđd., tr.114.

50. Ngô Hàng dã khách: Trụ xuân viên tiểu sử, trong Minh Thanh ngôn tình tiểu thuyết đại quan, sđd., tập trung, tr.834, 848 và 867; Phan Mạnh Danh: Bút hoa - Thơ tập cổ, sđd., tr.126, 100 và 104.

51. Phan Mạnh Danh: Bút hoa - Thơ tập cổ, sđd., "Trụ xuân viên" tr.54, 56, 60, 66, 105, 113, 123, 131; và "Thập tài tử" tr.67, 81, 100, 104, 115, 126. Bản NT cũng có cả Trụ xuân viên và Thập tài tử.

52. Phan Mạnh Danh: Bút hoa - Thơ tập cổ, sđd., "Hảo cầu" tr.66, 119; và "Nhị tài tử" tr.71, 73. Bản NT cũng có cả Hảo cầu lẫn Nhị tài tử.

53. Phan Mạnh Danh: Bút hoa - Thơ tậ cổ, sđd., "Tỳ bà ký" tr.94, 99, 113; và "Thất tài tử" tr.75, 101. Bản NT có Tỳ bà hành (?) và Thất tài tử. Chúng tôi chưa xác định được các câu thơ dùng trong Bút hoa là ở những hồi nào trong Hảo cầu truyện và Tỳ bà ký.

Riêng về Cửu tài tử được nhắc đến trong cả hai bản NT và Bút hoa (tr.57, 108 và 124), chúng tôi đã có khảo sát qua Trảm quỷ truyện và Nhị hà hoa để xác định Cửu tài tử là tác phẩm nào, những cũng chưa có kết quả.

54. Tam quốc diễn nghĩa và Bình Sơn Lãnh Yến không xuất hiện trong bản NT và Bút hoa.

55. Thủy hử xuất hiện trong văn liệu của Bút hoa (tr.130, 133 và 134), nhưng không có trong bản NT.

56. Tây sương được cả bản NT và Bút hoa sử dụng (tr.64, 81, 82, 91, 97, 100, 123, 132, 136, 137, 139). Bản NT có cả Tây sương lẫn lục tài tử.
__________________
sống trên đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không?.....
để.. buốt... trái... tim.....
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #42  
Cũ 15-08-2010, 09:22 AM
huyngoc's Avatar
huyngoc huyngoc đã thoát
Nghệ nhân
 
Tham gia ngày: Jul 2009
Đến từ: dày đây mai đó đã từng
Bài gửi: 637
Thanks: 67
Thanked 39 Times in 35 Posts
Mặc định Ðề: mục thơ văn , và suy ngẫm

Từ bao giờ và bằng cách nào
người Nhật thoát ra khỏi
quỹ đạo tư tưởng của Trung Quốc?

Cao Huy Thuần



Nhật Bản đã chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc không thua gì Việt Nam. Cũng như ở ta, Khổng giáo đã từng là khuôn vàng thước ngọc chính thống trong tư tưởng của nước ấy. Nhưng người Nhật đã sớm ra khỏi quỹ đạo tư tưởng của Trung Quốc. Họ bắt đầu giải phóng tư tưởng của họ từ bao giờ? Bằng cách nào? Do trường phái nào? Bằng lý luận gì? Đó là câu hỏi mà tôi mong nhiều bạn sẽ cùng đặt ra với tôi, và bài viết này chỉ là một câu trả lời rất khiêm tốn. Công việc của tôi, thật vậy, rất khiêm tốn: tôi chỉ đọc một quyển sách và trình bày lập luận của tác giả. Quyển sách là một tác phẩm có tiếng và tác giả là một giáo sư đại học lừng danh, ở Nhật cũng như trên quốc tế. Xuất bản lần đầu tại Nhật năm 1952 và gây tranh luận sôi nổi sau đó, quyển sách của Masao Maruyama, rất bác học và khó đọc, được dịch ra tiếng Anh năm 1974, rồi tiếng Pháp năm 1996, khi ông mất, dưới nhan đề: "Essais sur l'histoire de la pensée politique au Japon" ("Luận về lịch sử tư tưởng chính trị tại Nhật"). Giới học thuật Pháp đặc biệt chú ý đến lập luận của Maruyama, một lập luận độc đáo làm họ ngạc nhiên: người Nhật đã thoát ra khỏi sự nô lệ văn hóa đối với Trung Quốc trước khi tiếp xúc với Tây phương. Họ đã giải phóng tư tưởng của họ tự bên trong, chứ không phải dưới áp lực của bên ngoài. Hiện đại hóa trong tư tưởng của người Nhật đã diễn ra trong một quá trình tranh luận giữa các tín đồ Khổng giáo với nhau, chứ không phải giữa họ với "ánh sáng mới" đến từ Tây phương. Nói khác, hiện đại hóa trong tư tưởng của người Nhật đã xảy ra trước khi Minh Trị hiện đại hóa nước Nhật để bắt kịp Tây phương. Giải phóng tư tưởng đi trước giải phóng chính trị.

Đó là điểm đặc biệt mà ít người nói đến, nhất là ở phương Tây. Tây phương ưa làm người ta nghĩ rằng nguồn gốc hiện đại là đến từ họ. Đó cũng là điểm đặc biệt mà chúng ta, người Việt Nam, nên chú ý. Vì hai lẽ. Một là: trong cùng một hệ thống tư tưởng đến từ Trung Quốc, tại sao họ biết đặt lại vấn đề để phủ định, để hiện đại hóa, còn ta thì không? Hai là: tại sao ta vẫn lấy tư tưởng Trung Quốc làm tư tưởng của ta? Nếu ta không thiếu những cái đầu để suy nghĩ thì cái gì đã không cho phép ta làm cái việc mà Nhật đã làm hồi thế kỷ 17-18, tức là phê phán tư tưởng chính thống tự trong lòng tư tưởng ấy, bởi những tín đồ của tư tưởng ấy?

Người Nhật không hơn gì ta đâu về phương diện triết lý: họ cũng không có những lý thuyết gia xuất sắc. Vậy mà họ có được những trường phái, những tranh luận đưa dần đến sự thành hình một tư tưởng chính trị mang sắc thái đặc trưng của Nhật. Quyển sách của Masao Maruyama nghiên cứu sự thành hình đó. Ông đưa ra hai nhân vật tiêu biểu: Ogyù Sorai và Motoori Norinaga. Sorai (1666-1728) là kết tụ của một quá trình đánh giá lại Khổng giáo, hay nói cho chính xác hơn là Tống Nho. Norinaga đi xa hơn, đả kích Tống Nho, xây dựng cả một trường phái đề cao quốc học. Trong phạm vi nhỏ bé của bài này, tôi chỉ có thể giới hạn vào hai tác giả đó mà thôi, nhất là Sorai.

Đối tượng xét lại của Sorai: Tống Nho

Khổng giáo du nhập vào đất Nhật rất sớm, cuối thế kỷ thứ 4 sau Tây lịch, và đặc biệt được tôn quý nhất dưới thời Tokugawa, nghĩa là từ đầu thế kỷ 17 đến khi Minh Trị thiết lập lại uy quyền của Vua năm 1868. Sử Nhật xem khoảng thời gian đó như là thời hoàng kim của Khổng giáo. Cũng lạ, đó là khoảng thời gian mà người Nhật gọi là cận đại (kindai). Họ dịch "modernisation" là cận đại hóa. Thời hoàng kim của Khổng giáo ở Nhật là thời cận đại! Nhưng tại sao lại hoàng kim?

Lý do thứ nhất là cấu trúc xã hội và chính trị ở Nhật dưới chế độ phong kiến Tokugawa có thể so sánh với cấu trúc ở Trung Quốc hồi Khổng giáo bắt đầu phát triển: đất giống nhau, mùa màng tươi tốt như nhau. Nông dân thời Tokugawa không được phép mang kiếm bên mình, chỉ được sống với đất, tách biệt rạch ròi với giai cấp võ sĩ. Giai cấp võ sĩ lại tách biệt rạch ròi với đất đai, từ giã đất, kéo nhau lên đô thị làm gia nhân cho các lãnh chúa. Giữa họ với nhau, võ sĩ lại tách biệt rạch ròi thành đẳng cấp, tôn ty trên dưới phân minh. Cũng sĩ nông công thương như ở ta, nhưng "sĩ" (võ sĩ) tách biệt với ba giai cấp kia và tách biệt giữa nhau, phân chia trên dưới chặt chẽ, dưới phải tuân trên. Từ trên cùng là Đại Tướng Quân (Shogun) với các tướng quân chư hầu chung quanh, cho đến các samourai thấp kém nhất ở dưới, giai cấp võ sĩ thống trị tuyệt đối trên ba giai cấp khác. Tôn ty trật tự ấy tìm được nơi đạo lý Khổng giáo ý thức hệ tuyệt hảo để làm cơ sở lý thuyết. Ý thức hệ ấy thấm nhuần khắp xã hội, vì các giai cấp ở dưới có khuynh hướng bắt chước đạo lý sống của giai cấp trên đầu.

Lý do thứ hai là Khổng giáo khoác bộ áo mới dưới thời Tống nhờ tài ba sáng tác của Chu Hy, và Tống Nho được vị Shogun đầu tiên của thời Tokugawa là Ieyasu (1542-1616) đặc biệt sủng ái. Trước đó, Khổng giáo chỉ được quảng bá ở chốn cung đình, bây giờ Tống Nho được phổ biến rộng rãi trong dân gian qua các thầy đồ mở lớp dạy học trong quần chúng. Chẳng phải ông Đại Tướng Quân này sính gì đạo lý, văn chương. Ông biết ông đã ngồi trên lưng ngựa để được thiên hạ, nhưng ông cũng biết mất thiên hạ như chơi nếu chỉ cai trị với cái lưng ngựa. Tống Nho giúp ông chính đáng hóa quyền hành. Cả một học phái Nhật quảng bá tư tưởng Chu Hy được ông tích cực nâng đỡ.

Nhưng Tống Nho là gì? Trước hết, dưới mắt Sorai, đó là một sự trở về nguồn, lấy gương sáng của năm ông vua truyền thuyết thời thượng cổ (Nghiêu, Thuấn, Thang, Vũ, Chu Công) hợp với Khổng, Mạnh, làm kim chỉ nam, đặt trọng tâm trên Tứ Thư (Đại học, Luận ngữ, Trung dung, Mạnh Tử) thay vì Ngũ Kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu). Thứ hai, đó là một siêu hình học vừa được sáng chế, kết nối con người với vũ trụ, lấp đi một lỗ trống lớn trong tư tưởng của Khổng giáo, quá thiên về mặt hình nhi hạ. Toàn bộ là một hệ thống triết lý chặt chẽ bao gồm cả đạo đức hằng ngày của con người lẫn quan niệm về bản thể của vũ trụ.

Tôi khỏi phải dông dài về siêu hình học của Chu Hy, về thái cực, âm dương, ngũ hành… Chỉ nói rằng Chu Hy phát triển học thuyết Lí và Khí của hai anh em họ Trình, Trình Hạo và Trình Di, lí là phần siêu hình, khí là phần vật chất, hai phần ấy không tách rời nhau, hễ có khí thì có lí, nhưng lí có trước, khí có sau, lí có trước cả khi có Trời Đất, nghĩa là siêu việt vũ trụ và muôn loài. Mọi vật trong vũ trụ đều được tạo thành do sự hợp nhất của lí và khí; lí là bản chất của mọi vật, khí là hình thể của mỗi vật. Bản chất của mọi vật là giống nhau vì cùng do lí mà ra, nhưng dưới hoạt động của khí, mỗi vật đều dị biệt. Con người khác con vật là vì vậy: bản chất lí giống nhau nhưng nhận khí khác nhau, nên người làm chủ vạn vật. Cũng vậy, giữa người với người cũng khác nhau, vì tuy bình đẳng về bản chất, về lí, người này với người kia khác nhau về khí, về trình độ. Cho nên phàm thánh khác nhau, thánh hiền bẩm thụ khí trong, phàm phu bẩm thụ khí đục. Vũ trụ quan của Chu Hy kéo dài để trở thành lý thuyết về bản chất của con người. Nơi mỗi người vừa có "bản chất nguyên thủy" (lí) vừa có "bản chất riêng"(khí). Nơi thánh hiền, "bản chất riêng" trong suốt, hiển lộ bản chất trong suốt nguyên thủy. Nơi phàm phu, bản chất riêng vẩn đục vì ham muốn che lấp bản chất nguyên thủy. Cho nên "nhân dục" đối lập với "thiên lí". Từ chỗ vẩn đục ấy, tính ác sinh ra.

Thế nhưng… nhân chi sơ tính bản thiện, tánh thiện ẩn sâu trong bản tính của con người hơn tánh ác, vì tánh thiện là do lí mà ra, tánh ác là do khí mà đến. Làm sạch được những yếu tố của bản chất riêng thì phục hồi lại được bản chất nguyên thủy. Vì vậy, vấn đề là làm sao làm tốt hơn lên cái khí riêng của mình: tất cả luân lý của Tống Nho nằm trên đó.

Làm sao? Một là phải giáo dục luân lý. Lí học thánh hóa đạo đức của Khổng học, đưa Khổng học lên thành tôn giáo. Hai là phải dùi mài trí tuệ: cách vật trí tri. Tu thân là bước đầu tiên phải thực hiện trước khi tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.

Tu tề trị bình, ta đã từng học thuộc như cháo. Nhắc lại là cốt để nói: tất cả đều lệ thuộc vào luân lý, từ vũ trụ, thiên nhiên, đến văn hóa, lịch sử. Lịch sử không có gì khác hơn là bài học về luân lý, là tấm gương sáng về luân lý. Vũ trụ không có gì khác hơn là phản ánh bản tính của con người và bản tính đó là thiện vì lí là tuyệt đối chân và thiện. Từ một quan niệm siêu hình lạc quan về bản tính của con người, Tống Nho đi đến một kết luận về luân lý cực kỳ khe khắt, tất cả đều là luân lý, tất cả ước muốn của con người đều bị đặt dưới tòa án của phán quan luân lý. Nếu đây là lĩnh vực của cá nhân thì chẳng sao cả; vấn đề đặt ra là khi Nhà nước phóng tay lãnh đạo luân lý.

Lý thuyết siêu hình lạc quan ấy rất hợp với một xã hội ổn định như xã hội Nhật dưới thời Tokugawa, tức là thời kỳ tiếp theo sau một khoảng thời gian đại loạn kéo dài từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 17. Lý thuyết đó đem lại quân bình trong dân chúng và đồng thuận trong xã hội. Nhưng xã hội đâu có đứng yên mãi một chỗ, ổn định đâu có bất biến, tính lạc quan khởi đầu thời đại Tokugawa đâu có mãi mãi bền vững? Cả một loạt câu hỏi bắt đầu được đặt ra, khởi động phong trào đặt lại vấn đề. Lí có thật là bản tính nguyên thủy của con người? Con người có thể tự mình dẹp bỏ được "nhân dục" hay bắt buộc phải dẹp bỏ? Lí có phải là toàn năng đến mức cai trị tất cả? Tu tề có thật sẽ đưa đến trị bình? Nghi ngờ này tiếp theo nghi ngờ khác, rốt cuộc tất cả hệ thống dần dần tan rã dưới cách đặt lại vấn đề của Sokô (1622-1685), Jinsai (1627-1705), rồi Ekiken (1630-1714) như là những nhà đại Nho tiêu biểu. Họ vẫn ở trong hệ tư tưởng của Tống Nho, nhưng họ nghi ngờ. Một câu nói của đồ đệ Ekiken biểu trưng tình trạng đó: "Thầy tôi càng tin mãnh liệt chừng nào vào tư tưởng của Chu Trình thì càng nghi ngờ mạnh mẽ chừng ấy". Quá trình đặt lại vấn đề kết thúc với Sorai. Sorai là mở đầu của đoạn tuyệt. Thế giới trí thức Nhật bàng hoàng với những lập luận mới của ông, nhưng rất nhanh bị ông thu hút.

Sorai xét lại

Đâu là mới trong lập luận của Sorai? Quan trọng nhất là phương pháp nhìn và phân tích vấn đề của ông. Với phương pháp đó, ông vẫn đứng trong hệ tư tưởng của Tống Nho, nhưng ông đã suy nghĩ với một cái đầu khác. Thú thật, tôi không bị hấp dẫn vì nội dung trong tư tưởng của Sorai bằng phương pháp ông đã dùng trong thời đại của ông. Hai trường hợp cụ thể sau đây cho thấy cái nhìn mới của ông khi ông mới bắt đầu hành trình xét lại.

Trường hợp thứ nhất xảy ra năm 1696 khi Sorai giúp việc cho một quan chức lớn. Một anh nông dân cùng khổ bỏ nhà, bỏ vợ, cạo đầu làm thầy tu dưới tên Dônyû, dẫn mẹ đi lang thang kiếm ăn. Dọc đường, bà mẹ bị đau, anh chàng gửi mẹ tại chỗ, tìm đường lên kinh đô. Mặc dù bà mẹ được cư dân ở đấy chăm nom và gửi trả về nguyên quán, anh chàng vẫn bị bắt với tội phạm "từ bỏ cha mẹ". Ông quan hỏi ý kiến các nhà Nho cố vấn: trị tội với hình phạt gì? Luật nhà Minh không có chỗ nào nói về mục này, luật lệ bản xứ cũng không có, các Nho gia đề nghị xem trường hợp Dônyû như chỉ là trường hợp người đi ăn xin; Đi ăn xin thì đâu có phải từ bỏ cha mẹ? Huống hồ anh chàng đã bỏ vợ trước đó mấy ngày mà vẫn cung dưỡng mẹ già dù phải đi ăn xin - một thái độ đáng khen, nhất là đối với một người cùng khổ. Vợ thì bỏ, mà mẹ thì vẫn cưu mang: vậy thì anh chàng có ý định bỏ mẹ đâu? Đó là lối lý luận hợp với tinh thần Tống Nho, cái gì cũng dựa vào lí, lí đó luôn luôn hiện diện trong đầu con người và hiển lộ qua ý định đưa đến hành động.

Viên quan không bằng lòng với lập luận đó. Dưới mắt ông, bỏ cha mẹ là tội không tha thứ được, dù con đi ăn xin. Ông hỏi ý kiến Sorai. Đây là lần đầu trong đời, ông lập thuyết công khai: "Nếu có một nạn đói xảy ra nơi nào đó, chắc chắn nơi khác cũng có nhiều người đói như vậy. Bỏ cha mẹ là điều không tưởng tượng được. Nếu ta xét hành động của Dônyû là như vậy và phạt tội, ta sẽ tạo ra một tiền lệ mà tòa án các nơi khác sẽ xử theo. Nhưng tôi nghĩ rằng trách nhiệm dồn một người đến cái mức tàn tệ như Dônyû trước hết phải quy cho các quan địa phương từ cấp thấp đến cấp cao rồi lên cao hơn và ngay cả lên cao hơn nữa. Bởi vậy, tội của Dônyû, nếu đem ra so sánh, là không đáng kể".

Thượng cấp của Sorai khen phải. Ông cho phép Dônyû trở về nguyên quán và cấp dưỡng thóc gạo để nuôi mẹ. Lời tự sự sau đây của Sorai đáng ghi lại nguyên văn:

"Từ thuở bé, tôi đã sống ở nông thôn; năm 13 tuổi, tôi dời đến Kazusa và nếm đủ mùi khổ cực, thấy đủ mọi cảnh. Chính tại vì tôi là dân quê mùa cục mịch, vừa chui ra khỏi nông thôn, nên tôi mới dám nói với quan lớn thứ ngôn ngữ mà người thường không dám bắt chước… Ở mãi trong phủ chúa, người ta tất nhiên nhiễm thói quen sống và suy nghĩ để trở thành những kẻ nói sao cũng được và tựu trung chẳng biết gì. Nghĩ cho kỹ, các quan lớn hoặc các quý tộc sống mãi trong đó chẳng biết gì cả và chẳng bao giờ nói được câu gì khác với các ý kiến nghe đến nhàm tai".

Lời tự sự đó hé ra cho thấy ý muốn cải cách chính trị của Sorai. Nhưng quan trọng không kém là cách nhìn vấn đề của ông. Nho gia nhìn mọi việc qua lí, gò bó tư tưởng trên ý định chủ quan đã đưa Dônyû đến hành động để xem hành động đó "đáng khen" hay không. Sorai, đặt vấn đề trên bình diện khách quan, hướng vấn đề qua trách nhiệm chính trị của quyền lực để tha bổng. Đúng hay không, không phải là chuyện để nói ở đây. Chuyện để nói là cái nhìn đã đổi. Phân biệt hai lĩnh vực, khách quan và chủ quan, là một khía cạnh quan trọng trong phương pháp luận của Sorai.

Chuyện thứ hai lý thú hơn nữa, gợi hứng cho những tranh luận kéo dài đến thế kỷ 19. Sáng ngày rằm tháng chạp năm 1702, dân chúng ở kinh đô hoảng kinh khi nghe kể 46 cựu samourai của lãnh chúa Akô tấn công tư thất của Kira Yoshinaka, cắt đầu ông này để trả thù cho chủ cũ. Dư luận bàn tán xôn xao về thái độ phải đối xử trong sự việc tối quan trọng này vì nó liên quan đến mối quan hệ phong kiến giữa chủ và tớ, nền tảng của chế độ Tướng Quân. Sự việc cũng động đến cơ sở của Khổng giáo trong chừng mực luân lý đức Khổng đặt ngang hàng quan hệ chủ tớ với bốn quan hệ khác, có tính cách tư, cha-con, vợ-chồng, anh-em, bạn bè. Nho gia bối rối. Phần đông đòi tha cho các samourai. Rốt cuộc, phán quan của Tướng Quân xử như sau:

"Nếu ta lý luận theo các lý do đã thúc đẩy các samourai đó hành động, hành động của họ là thích đáng vì họ là những người mà cuộc đời là ngủ trên chiếu, gối trên gươm, báo thù cho chủ, giết kẻ thù của chủ không đội trời chung. Luật sống của samourai buộc họ không được tha thiết với đời sống, cấm họ nuốt nhục. Nếu ta lý luận theo quan điểm của luật pháp, ai làm trái luật đều phải trị tội. Dù các samourai đã hành động theo lời trối trăn của chủ cũ, họ đã vi phạm luật của Nhà nước. Tội đó đáng phải xử trảm để làm gương cho thế hệ bây giờ và mai sau. Hai quan điểm đó [lý do và luật pháp] có vẽ hoàn toàn trái ngược nhau, nhưng vẫn có thể sống chung với nhau mà không phản lại nhau. Chỉ cần, trên thượng đỉnh, có một minh quân cai trị với những cố vấn minh triết, làm sáng tỏ luật pháp và ban bố sắc lệnh, và ở dưới, có những chư hầu trung thành và những samourai đạo hạnh, xả thân theo tình cảm của mình, sống trọn với ham muốn, rồi sau đó quyết định tuân theo luật pháp, chấp hành bản án xét xử".

Một lập luận hàng hai, nhưng cho phép áp dụng cả hai thứ luật: luật của Nhà nước và luật của võ sĩ đạo. Chuyện đáng nói ở đây là sự phân biệt giữa ý định ở bên trong và luật pháp ở bên ngoài báo hiệu sự tan rã của lý thuyết về lí, đặt tất cả trên nền tảng luân lý, xem mọi nguyên tắc của lĩnh vực công đều bắt nguồn ở luân lý cá nhân, tu thân vi bổn, trị nước là hậu quả kéo dài.

Sorai cũng kết án như thế, nhưng với một lập luận khác, chặt chẽ hơn:

"Sự việc 46 samourai trả thù cho chủ chứng tỏ rằng các người này tôn trọng danh dự giống như bất cứ samourai chân chính nào khác. Hành động trung thực như vậy, đã đành họ đi theo con đường mà bổn phận của họ đã vạch ra, nhưng sự lựa chọn đó chỉ liên quan đến họ, và, tựu trung, đó là một vấn đề có bản chất riêng tư. Đối với luật, thái độ đó không chấp nhận được. Nếu, bây giờ, ta tuyên bố rằng 46 người đó có tội mà lại kết án họ mổ bụng theo luật võ sĩ đạo của họ thì các võ sĩ ấy có sợ gì mà không mổ bụng theo bổn phận trung thành của họ? Có thể biện pháp đó thích hợp nhất với ích lợi chung, nhưng nếu ta vi phạm ích lợi chung bằng những lập luận về ích lợi riêng như thế, rốt cuộc sẽ không thể làm luật gì được cho Nhà nước".

Khác nhau chỉ ở câu cuối. Sorai cũng công nhận hành động của các samourai là có cơ sở, nhưng, bằng mọi giá, phải hạn chế sự công nhận đó vào lĩnh vực tư, như là những quan điểm riêng tư, chủ quan, cá nhân, khi các quan điểm ấy trái với ích lợi chung, hoặc khi một luân lý cá nhân tràn vào lĩnh vực công.

Phân biệt hai lĩnh vực công và tư, lãnh địa của luân lý và lãnh địa của luật pháp, lãnh địa của tu thân và lãnh địa của trị quốc, tư tưởng của Sorai nhắm vào một điểm căn bản: chính trị hóa Khổng giáo, đặt ưu tiên trên yếu tố chính trị. Từ điểm căn bản này, Sorai dần dần phá vỡ tất cả kiến trúc của tư tưởng Tống Nho, với một phương pháp luận sắc bén, chặt chẽ.

Điểm khởi hành của phương pháp đó là: "nghiên cứu những từ cổ và những câu cổ". Sorai gây dựng cả một học phái đi chuyên sâu vào nghiên cứu này. Ông nói: không hiểu chữ cho đúng thì không hiểu Đạo được. Tại sao? Tại vì một ngôn ngữ luôn luôn thay đổi theo thời gian. Nếu ta giải thích những tài liệu xưa theo nghĩa của chữ mà ta dùng ngày nay, có khi ta hiểu sai ý của người xưa. Tinh túy của nghiên cứu, ông nói, là khiêm tốn giới hạn vào việc tìm hiểu từ và sự việc. Đừng quan tâm đến những biện luận tinh tế về bản chất của đời sống. Cụ thể, nghĩa là gì? Là nghiên cứu những định chế và sự kiện văn hóa mà Nghiêu Thuấn để lại cho thời hoàng kim của Tam Đế Hạ, Thương, Chu. Thay vì Tứ Thư như Chu Hy xem trọng nhất, Sorai đặt trọng tâm trên Ngũ Kinh, vì theo ông, Ngũ Kinh diễn tả những định chế và những sự kiện lịch sử. Nghiên cứu cặn kẽ từng chữ, từng câu trong Ngũ Kinh để hiểu rõ cụ thể những định chế của thời thượng cổ, xong rồi mới bắt qua Luận Ngữ để hiểu ý nghĩa thực sự những gì Khổng Tử viết, chứ không phải chỉ hiểu Khổng Tử qua giải thích của người đời sau. Nếu Sorai sống vào thế kỷ 19 ở châu Âu hoặc thế kỷ 20 ở nhiều nước khác, chắc ông sẽ nói: hãy hiểu Mác bằng cách đọc thẳng Mác, chứ đừng đọc qua chữ nghĩa của những người nhân danh ông.

Mục đích mà Sorai nhắm đến là gì? Là cắt đứt sự liên tục giữa Thánh nhân và người thường và gạt bỏ dần dần tính chủ quan - mà ông gọi là "minh triết riêng tư" - nhờ chuyển việc nghiên cứu từ lí qua cổ tự, cổ ngữ. Ông lập luận thế nào?

Sorai lập luận

Trước hết, Đạo chỉ bao gồm những nguyên tắc liên quan đến con người, chứ không phải bao gồm cả trật tự tự nhiên, liên quan đến Nhân, chứ không mắc mớ gì đến Thiên với Địa. Khi người ta nói đến "Đạo Trời" là vì liên tưởng đến "đạo của Thánh nhân", thế thôi, chứ chẳng ai biết Trời là gì. Trời là bí mật, không thể biết được. Thánh nhân sợ Trời, kính Trời, nhưng không bao giờ nói rằng mình biết Trời là gì. Trời không phải là đối tượng của hiểu biết, Trời là đối tượng của kính sợ. Các ông đại Nho giải thích "Trời là một thể với Lí" là tán dóc, là "minh triết riêng tư". Đạo, duy nhất là Đạo của Thánh nhân. Đạo của Thánh nhân là gì?

Sorai phân biệt tinh túy với nội dung. Ông nói: Người xây dựng nên Đạo là Nghiêu và Thuấn, mà Nghiêu và Thuấn là vua. Vậy Đạo của Thánh nhân bao gồm duy nhất Đạo của chính quyền, Đạo của Nước. Và bởi vì Nghiêu Thuấn là vua, Đạo của Thánh nhân cũng được gọi là Đạo của các Vua Thời Xưa. Đạo đó có mục đích đem lại thái bình cho Nước. Trong tinh túy, Đạo đó có bản chất chính trị: trị quốc để bình thiên hạ. Chính trị tách rời với luân lý. Chính trị tách rời với tu thân. Dây liên kết tu tề trị bình bị chặt đứt.

Còn nội dung là gì? Là lễ, nhạc, luật và nghệ thuật cai trị, những yếu tố mà các Vua Thời Xưa đã sáng chế; Ngoài ra không có gì khác. Đạo là khách quan và cụ thể. Lễ, nhạc, luật, và nghệ thuật cai trị là những định chế và sự kiện văn hóa của thời thượng cổ, không có liên quan gì đến bản tính con người. Nếu ta ăn mặc như Nghiêu, nói năng như Nghiêu, cư xử như Nghiêu thì ta là Nghiêu, chẳng cần nhờ vả gì đến lý thuyết nhân chi sơ tính bản thiện. Vì Đạo không có liên hệ ràng buộc gì của luân lý, bàn luận về tính thiện, tính ác là tốn nước bọt.

Vậy thì nền tảng của Đạo là sáng chế của các Thánh nhân hoặc của các Vua Xưa. Tuân theo Đạo của các Vua Xưa là thiện, không tuân theo là ác. Đến cái mức này, tôi nghĩ, các Vua Thánh nhân đã được Sorai siêu việt hóa, thần linh hóa, nâng lên ngang Trời, thành đối tượng tôn giáo. Bởi vậy, trái với Chu Hy cho rằng con người có thể tu thân để trở thành thánh nhân, Sorai quả quyết ta có thể học Thánh nhân nhưng ta không bao giờ thành Thánh nhân. Thánh nhân tách biệt với con người, một bên là tối hảo, một bên là đầy nhân dục, không thay đổi được.

Thánh nhân là tối hảo, nên các định chế của họ cũng tối hảo. Nhưng những định chế đó không phải là những nguyên tắc bất biến. Thánh nhân siêu việt, nhưng những nguyên tắc đó không siêu việt mà, trái lại, bị điều kiện hóa theo thời gian và không gian. Hiểu như vậy thì mới hiểu được lịch sử. Lịch sử không phải là một chuỗi dài thưởng phạt, mà là sự kiện. Sự kiện là khách quan, bình chú là chủ quan. Chủ quan thì y theo nguyên tắc. Sự kiện thì thay đổi. Ngôn ngữ cũng vậy. Định chế cũng vậy.

Từ đó, Sorai bắt qua chuyện học. Ông nói: thuở đầu, kiến thức bao gồm việc học Đạo của các Vua Xưa để trị quốc. Đạo của các Vua Xưa là Ngũ Kinh. Bây giờ, học còn là quan sát càng rộng càng tốt các sự kiện, không những lịch sử mà tất cả các lĩnh vực khác, văn chương, luật pháp, quân sự, kể cả âm nhạc, nghĩa là những gì liên quan đến văn hóa. Ông gọi lĩnh vực thứ nhất là công, lĩnh vực thứ hai là tư. Quan niệm của Sorai về công và tư khá độc đáo, cần nói rõ thêm để hiểu ý muốn chính trị hóa Khổng giáo đã nêu lên từ đầu. Câu chuyện sau đây làm sáng thêm vấn đề:

Hai samourai thông đồng với nhau để lật đổ chế độ tướng quân. Việc bại lộ vì anh này đi tố cáo anh kia với nhà chức trách. Thưởng công cho anh đi tố cáo là việc mà dư luận phản đối, vì ai cũng cho anh này là hèn, sao không tự tay chém phứt cái đầu của anh kia mà phải mượn tay Nhà nước. Sorai không nghĩ thế. Ông thấy một duyên cớ khác: nếu anh ta tố cáo vì trung thành với Nhà nước thì sao? Ông nói: trong việc cai trị một nước, nhiều khi những bổn phận riêng tư phải tuân theo những nguyên do hợp lý, nhưng nếu những bổn phận đó trái với trật tự công đến mức vi phạm trật tự công thì không được viện dẫn bổn phận riêng tư.

Trong chuyện vừa kể, cũng như hai chuyện trước, "công" có nghĩa là chính trị, xã hội, cái gì ở bên ngoài; "tư" là cái gì ở bên trong, là cá nhân. Hiểu như vậy là đồng nghĩa với cách hiểu hiện nay, nhưng không dễ gì tư tưởng "tiền hiện đại" đi đến chỗ đó. Trước hiện đại, người ta không thấy gì chống đối, phân biệt, giữa công và tư. Ông quan, đã là phụ mẫu chi dân thì ông làm gì cũng vừa là quan vừa là phụ mẫu. Cả cái nước cũng là của ông. Phân biệt giữa công và tư, và giải phóng cho "tư", là công trình của hiện đại. Trong "tiền hiện đại", không phải người ta hoàn toàn không có khái niệm gì về công và tư, nhưng người ta hiểu một cách khác, dựa trên luân lý. "Công" là tốt, là thiện. "Tư" là xấu, là ác. Trong Tống Nho, "công" là lí, "tư" là nhân dục. Sorai cũng đặt "công" trước "tư". Nhưng ông không bác bỏ "tư". Người cầm quyền cũng có quyền có những quan tâm tư. Nhưng người cầm quyền chính đáng phải đặt quyền lợi công trên quyền lợi tư. Chừng đó, tư tưởng của Sorai đã là cách mạng. Càng cách mạng hơn nữa khi ông bênh vực những cảm thụ tự nhiên của con người, chống lại luân lý gò bó của Khổng giáo.

Từ đó, sự phân biệt công/tư trong Sorai đưa đến sự phân biệt giữa quy tắc và tính tự nhiên (norme/nature). Ông viết: "Các đại Nho hiện tại say sưa với nguyên tắc lí, các ngài mở miệng ra là toàn luân lý, bổn phận, thiên mệnh, nhân dục. Mỗi khi nghe vậy, tôi buồn nôn đến nỗi phải chạy đi nơi khác cầm ống sáo mà thổi". Đừng thay đổi tính tự nhiên của con người, phát triển cá tính của mỗi người, giải phóng cá tính đó ra khỏi luân lý chi hồ dã giả, học phái của Sorai thu hút không biết bao nhiêu là trăm hoa trong hội trường của ông.

Sau lịch sử, sau chính trị, đến lượt văn chương cũng được ông giải phóng ra khỏi luân lý. Kinh Thi, theo ông, không cốt khuyến thiện trừng ác. "Có rất nhiều bài thơ nhá nhem đạo đức trong đó. Những bài thơ ấy, nếu Chu Hy bình chú là đã được sáng tác để trừng ác, thì tôi quả quyết ngược lại rằng đó là những bài thơ sáng tác để đưa vào đường trắc nết hư thân. Tuyệt đối không có gì khác giữa những bài thơ trong Kinh Thi và những tác phẩm về sau. Phải đánh giá những bài thơ trong Kinh Thi như là những bài thơ và chỉ là những bài thơ". Thơ là để diễn tả tình cảm của con người, do đó thuộc về lĩnh vực tư.

Tóm lại, trên tất các vấn đề căn bản, Sorai phá vỡ thành trì Khổng giáo tuy vẫn ở trong Khổng giáo. Một tư tưởng trổi dậy như vậy, được trí thức hưởng ứng, gây nên thanh thế, tất phải có cơ sở xã hội. Cơ sở xã hội này tất không phải nền tảng trên đó triều đại Tokugawa xây dựng quyền hành lúc đầu. Vậy đó là cơ sở xã hôi gì?

Cơ sở xã hội của tư tưởng Sorai

Trong 80 năm đầu củng cố quyền lực, ổn định xã hội, tiếp theo một thời gian cực loạn, triều đại Tướng Quân Tokugawa đã lấy Tống Nho làm hệ ý thức, cắt đứt mọi liên lạc với bên ngoài, biệt lập với thế giới, bế môn tỏa cảng. Xã hội được ổn định thật đấy, nhưng với thời gian xã hội nào mà không biến chuyển?

Trước hết là biến chuyển về văn hóa. Tướng Quân thứ năm, Tsunayoshi, ra sắc lệnh buộc các samourai phải học văn chương chữ nghĩa, ngoài phép tắc lễ nghĩa trên dưới. Ý của Tướng Quân là dựng lên một chính quyền nho sĩ. Khổng Miếu được xây ở Phủ chúa, Edo, giáo dục được mở mang, thơ phú được diễn giảng khắp nơi, chúa tôi hồ hỡi đàm luận chữ nghĩa trong các hội trường, nhà nhà vang dội thánh điển Khổng Mạnh. Được Tướng Quân yêu chuộng, khuyến khích, thơ và nghệ thuật phát triển rất nhanh, trổ ra thành nhiều trường phái độc lập, tranh đua nhau phản ứng lại truyền thống. Bashô xuất hiện trong thơ. hài cú phô sắc. Văn chương bắt đầu có dấu hiệu hiện thực với Saikaku mô tả thế giới ăn chơi ở Edo. Kịch nghệ vụt trưởng thành, mở ra cho giới thị dân có tiền thú tiêu khiển mới. Hội họa khoác áo tươi mát, cởi mở hơn, đáp ứng thị hiếu mới của giới ăn chơi. Tóm lại, trong mọi lĩnh vực của văn hóa, tính sáng tạo nảy nở, đơm bông kết trái.

Những hình thái văn hóa mới đó đem vui đến cho đời sống trở nên thoải mái hơn của dân thị thành, nhưng rốt cuộc lại bị dân thị thành biến đổi, và dân thị thành ở đây, đặc biệt là ở ba thành phố lớn nhất, Edo, Kyôto, Osuka, là giai cấp mới đang lên, nhờ kinh tế mở mang. Có tiền, họ phung phí tiền vào những chuyện ăn chơi quá lố, văn hóa rốt cuộc rồi cũng lố lăng. Phụ nữ diện rất sang, bắt chước các cô gái ở khu ăn chơi, áo quần đắt tiền từ ngoài đến trong, phấn son lược là cực kỳ đỏm đáng, trương của trên khắp thân hình, mệnh phụ phu nhân ngày xưa nằm mơ cũng không dám thế. Giới samourai bắt chước theo. Trước, các vị ấy không có cả chiếu trải nhà. Bây giờ, nhà cao cửa rộng, áo lụa xênh xang, đầu chải dầu, gươm nạm vàng bạc, kẻ dưới ăn diện không thua bậc trên, kể cả các chú võ sĩ trẻ hầu hạ trong các gia trang, xa hoa hỗn tạp.

Dưới đã vậy, trên khỏi nói. Cách ăn, cách ở, cách đầy tớ gia nhân hầu hạ, cung phụng, bái rước mỗi khi ra đường, nghi lễ đám cưới, đám tang hoành tráng không thua gì chốn cung đình, nhất cử nhất động tiền vung như nước.

Các chỗ ăn chơi phồn vinh như trúng số, ban ngày là thiên đường, ban đêm là lạc cung, giới võ sĩ cũng lân la đến nếm mùi, cả trên lẫn dưới. Ăn chơi đã trở thành mục tiêu của đời sống, mọi quan tâm khác, nhất là chính trị, tan biến trong đầu, đầu ai còn tơ tưởng đến đổi mới với cải tổ, tướng quân chỉ cần kín đáo tặng một nhát gươm. Nhất trí, võ sĩ và giai cấp thị dân mới giàu cùng vui chơi, cùng hưởng thụ một thời đại thanh bình, văn hóa phát triển, chính trị ổn định, đỉnh cao nhất của triều đại Tokugawa.

Nhưng đó là bộ mặt phồn vinh ở bên ngoài. Ở bên trong, biến đổi cứ âm thầm tiến tới, bước từng bước chậm nhưng chắc nịch, phá hủy dần dần quyền lực của chế độ phong kiến Tokugawa dựa trên sự phân chia giữa giai cấp võ sĩ với ba giai cấp kia. Bắt đầu là biện pháp thả lỏng việc phong đất cho chư hầu và tình trạng các võ sĩ tập trung về thành phố. Đặc điểm của chế độ phong kiến là kết hợp quyền lực và sở hữu đất đai. Bây giờ, tách rời quyền lực ra khỏi việc quản trị trực tiếp đất đai tức là đào mồ cho cả chế độ. Anh chư hầu được phong đất còn có chút liên hệ với đất thông qua đất được phong và phẩm vật phải cống cho thượng cấp, nhưng bây giờ, đối với phần đông giới võ sĩ, toàn là võ sĩ cấp dưới cả, chút liên hệ với đất đai đó chỉ còn tính cách rất tượng trưng qua việc hưởng lương trên thóc của nông dân nộp. Chưa hết, Nhà nước đã bắt đầu đúc tiền, kinh tế bắt đầu đi vào kinh tế tiền tệ, mà tiền thì càng ngày càng phải đúc thêm để trả lương cho các samourai càng ngày càng tập trung về kinh đô và thành phố. Đời sống của các samourai lúc trước dựa trên lợi tức của đất, vững chắc, bây giờ dựa trên tiền càng ngày càng mất giá. Đến nhà thổ, đâu có vác thóc đi theo để trả cho các em? Tiền đâu để xài sang?

Tướng Quân Tsunayoshi hào phóng hậu đãi chư hầu và võ sĩ được một thời phồn vinh, nhưng sau ông, khó khăn về kinh tế và tiền tệ trở thành bất trị, ngân sách Nhà nước cứ chi bội thu. Các Tướng Quân không có biện pháp gì khác ngoài việc cứ đúc thêm tiền, cả tiền vàng tiền bạc. Càng đúc, giá càng lên, samourai càng cạn túi, tiền càng đổ xô chui vào hầu bao của giới thương nhân. Võ sĩ đem thóc ra đổi tiền, ban đầu đổi ra tiền vàng, sau tiền vàng mất giá, đổi ra tiền đồng để tiêu hàng ngày. Gạo cơm mắm muối ngày nào cũng chừng ấy, không giảm, mà tiền đồng thì khan, có nghĩa là tiền đồng lên giá, võ sĩ càng túng. Các Tướng Quân giải quyết bằng cách đúc tiền "nặng", giá gấp mười lần đồng tiền cũ. Nhưng dân không ưa tiền ấy, không chịu dùng, chính quyền ép mấy cũng không được, dọa nạt cũng bằng thừa. Đến một lúc thì chuyện lạ ắt phải xảy ra: dân không nghe nữa. Tướng Quân chết giữa cơn hỗn loạn tiền tệ, nào vàng, nào bạc, nào đồng mà tỷ hối cứ thay đổi bất thường, chưa kể vàng bạc cũng biết tìm đường vượt biên ra khỏi nước, định cư nơi nào đắt giá hơn.

Tình trạng bất lực kéo dài cho đến Tướng Quân thứ 8, Yoshimune (1684-1751). Ông này áp dụng một chính sách khắt khổ, giảm chi, giảm tiêu, từ Tướng Phủ đến dân chúng. Nhưng tình trạng vẫn không khá, Nhà nước phá sản, không đủ tiền để trả lương cho chư hầu. Rốt cuộc, để cứu nguy, ông phải nuốt nhục dùng đến một biện pháp cùng đường: buộc các chư hầu (daimyô) có một lợi tức bằng hoặc cao hơn 10 000 koku phải biếu ông một "tặng phẩm bằng thóc" tương ứng với 1% của lợi tức. Ngược lại, ông miễn cho họ một nửa nghĩa vụ phải ở kinh đô. Chế độ phong kiến ở Nhật buộc chư hầu phải thay đổi chỗ ở, một nửa thời gian ở địa phương, một nửa thời gian ở kinh đô. Bây giờ cột trụ phong kiến ấy sụp đổ (từ 1722 đến 1730) chỉ vì khó khăn ngân sách.

Họa vô đơn chí, khổ vì chuyện tiền, võ sĩ còn khổ vì chuyện thóc. Giá thóc cứ tụt, rồi đến năm 1728 thì rơi tõm vì… quá được mùa. Nhưng giá gạo cơm mắm muối thì không tụt mà cứ thăng thiên. Tiền thì túi rỗng mà ăn chơi xả láng thì quen thói, võ sĩ không trở về lại được nữa với thời yên ngựa thanh gươm, dần dần lệ thuộc vào giới ngân hàng, giới cho vay, phất lên giàu sụ nhờ khai thác tỷ hối lên xuống giữa vàng và bạc, nhờ giá hàng của vật phẩm tiêu dùng lên vọt như pháo bông. Đồng thời, chính sách xây nhà, nhất là sau những thiên tai, tạo ra bổng lộc béo bở cho các nhà thầu, cho các tay buôn gỗ.

Chưa bao giờ giới thương gia thượng phong đến thế! Trật tự trên dưới giữa hai giai cấp, võ sĩ và phú thương, đảo ngược, trời nằm dưới, đất ở trên. Chư hầu cao cũng như chư hầu thấp cúi rạp đầu trước phú thương để xin ân huệ, xin tha những lỗi đã phạm, xin khất nợ, xin vay thêm tiền để tiếp tục xa hoa. Trước, võ sĩ xưng hô trịch thượng với thị dân; bây giờ, gặp phú thương đều phải gọi "ngài" như nhau, ngài này với ngài kia, bình đẳng. Trước mắt phú thương, khách hàng là khách hàng, ai cũng như ai, gươm đeo bên hông hay không cũng vậy. Họ nói: võ sĩ có gươm, ta đây có gái geisha, ai làm ai lác mắt? Họ lại nói: gươm chém đầu được, nhưng chém tiền thử coi! Tiền vào là gươm tè ra nước!

Tuy nhiên… tuy nhiên cũng phải nói điều này: tất cả giới phú dân vừa phất lên ấy đều ăn bám vào quyền lực phong kiến, tất cả đều là "tư bản thương gia" chẳng có khả năng gì sáng tạo ra những phương thức sản xuất mới, phần đông làm giàu chỉ nhờ cho vay nặng lãi một cách hợp pháp. Nương vào quyền lực phong kiến mà phất, phất lên nhờ hút máu từ thuế của nông dân nộp cho lãnh chúa, kiếp giàu của họ rất mong manh. Họ ý thức chứ: Tướng Quân nổi giận là họ đi đời. Cho nên, ăn chơi cho hả là triết lý sống, vất tiền vào thanh lâu như vất rác, yến tiệc hơn cung đình, xe ngựa lầu son tang bồng phỉ chí. Tất cả giới phú thương đó không tạo ra nổi cái bóng mờ của "giai cấp trung lưu", "bourgeois", đầu óc chẳng có chút lý tưởng gì tương tự giới doanh nhân đồng thời lúc ấy ở bên kia trời Âu như Weber mô tả.

Sĩ nông công thương… vị thế tương quan giữa sĩ và thương là như vậy. Còn cột trụ thứ hai của chế độ phong kiến - nông dân - thì sao? Thì âm thầm chịu đựng, như chịu đựng từ bao thế kỷ.

Từ đầu, các Tướng Quân Tokugawa đã nghĩ ra mọi biện pháp để thu thuế, thuế là cơ sở kinh tế của quyền lực họ nắm. Mọi biện pháp đều tốt dù xâm phạm vào đời sống riêng tư, ăn uống mặc ngủ… Nông dân phải ăn thế nào? Ăn ngũ cốc hạng bét, ít gạo. Uống làm sao? Cấm uông sakê, cấm uống trà. Một trà một rượu, hai thứ ấy cấm. Mặc sao đây? Cho phép mặc áo bông, nhưng cấm đụng đến vải sang, dù để làm cổ áo hoặc thắt lưng cho đẹp. Trồng trọt thế nào? Để dành đất mà trồng ngũ cốc, không được trồng thuốc lá. Còn vợ con phu thê, cái thứ ba lăng nhăng ấy, tha hồ chứ? Luật dạy: được rẫy vợ khi vợ không săn sóc chồng đàng hoàng, khi vợ có thói uống trà nhiều quá, thích vui chân dạo chơi nơi này nơi nọ. Ngược lại, dù vợ xấu như ma lem mà sửa túi nâng khăn tươm tất thì phải thương yêu hết mực.

Tất cả những cấm kỵ răn bảo đó đều được luật quy định. Và luật phê: như thế thì nông dân sẽ có một đời sống yên lành, vô tư, sau khi đã làm xong nghĩa vụ nộp thuế. Giả dụ như có anh nông dân nào chịu cường hào ác bá không nổi, muốn bỏ làng mà đi, qua sống làng khác, được chăng? Được chứ! Thoải mái, sau khi đã nộp thuế không thiếu một hạt thóc.

Ấy, nông dần âm thầm… Nhưng có cái gì mà không biến đổi, kể cả cái âm thầm chịu đựng của anh nông dân? Kinh tế thương mại, kinh tế tiền tệ phát triển vào tận nông thôn, ảnh hưởng lên đời sống của nông dân. Việc thu thuế càng ngày càng khe khắt vì giới võ sĩ càng ngày càng nghèo túng. Kinh tế đổi chác, đổi thóc lấy hiện vật nhường chỗ cho tiền, khí cụ trao đổi. Nhưng ảnh hưởng kinh tế, dù lớn, cũng không lý thú bằng ảnh hưởng văn hóa, cái thứ văn hóa ăn chơi xa xỉ của phú dân thành thị. Bị siết chặt đủ thứ trong đời sống riêng tư, anh nông dân rướn cổ tìm chút không khí tươi mát bằng cách bắt chước ăn chơi ở thị thành, mặc cho Tướng Quân ban thêm sắc lệnh nhắc nhở bổn phận ăn mặc ngủ nghỉ. Nông dân gánh trên vai hai thúc bách mâu thuẫn: vai này nhắc thuế nặng hơn, vai kia xúi dại ăn chơi chút đỉnh. Hậu quả tất nhiên là thế: giữa nông dân và lãnh chúa "địa chủ", hận thù chồng chất.

Đã thế, thâm nhập của tư bản thương mại vào nông thôn tất phải đưa đến việc thu hút đất đai vào quy trình tiền tệ. Trên nguyên tắc, đất đai trồng trọt cấm không được mua bán; nhưng luật đó bị cả trăm biện pháp vô hiệu hóa. Rốt cuộc, một mặt, trên nguyên tắc, đất bị tập trung; một mặt, trên thực tế, đất bị phân tán. Nông dân, cùng đường, chỉ còn có cách duy nhất thôi, quá quen thuộc trong lịch sử, là nổi loạn. Từ 1704 đến 1735, đếm sơ sơ 40 vụ nổi loạn, gấp đôi so với trước. Đến 1750 thì tình trạng nông dân bi đát đến mức đe dọa cả chế độ phong kiến.

Bức tranh xã hội kể trên đưa đến nhận định gì? Đàng sau lớp son tráng lệ của văn hóa thời Tsunayoshi (thường gọi là văn hóa Gensoku) dâng lên, ở thành phố cũng như nông thôn, một thái độ chống đối, nơi này tiêu cực, nơi kia tích cực, tất cả hợp lại thành nước thủy triều làm nứt đê, đẩy chế độ phong kiến đến chỗ phải xét lại. Nhưng chống đối, tiêu cực hoặc tích cực, đều không đủ mạnh để đập vỡ chế độ. Dù lung lay, phong kiến Tokygawa vẫn tồn tại. Nói cách khác, đây đúng là tình trạng chuyển tiếp, giao thời. Đúng là bối cảnh xã hội để Sorai "chính trị hóa" Khổng giáo.

Thật vậy, nếu xã hội vững chắc, ổn định, một tư tưởng xét lại sẽ không có chỗ đứng, tâm lý con người lúc đó ai cũng thấy lạc quan. Chỉ khi nào xã hội biến đổi, giai cấp thống trị cảm thấy bị đe dọa, khi đó một vài đầu óc nhạy bén mới cảm thấy có khủng hoảng, mới đặt vấn đề tư tưởng chính trị lên hàng đầu. Nhưng, mặt khác, nếu xã hội tham nhũng, nhầy nhụa, xáo trộn đến mức vô phương cứu chữa thì hoạt động trí thức cũng bầy nhầy, nhem nhuốc, lấp liếm rỗng tuếch trong phê phán bằng tiếu lâm với ngụ ngôn. Chính ở giữa hai tình trạng đó, hai giới hạn đó, một tư tưởng chính trị có tính chiến đấu, có khả năng đốp chác với thực tại, mới có thể trổi dậy. Sorai đúc kết được tư tưởng của ông, chối từ lạc quan của Tống Nho, "chính trị hoá" Khổng giáo", chính là nhờ ông đã sống ở giữa hai giới hạn ấy. Sorai là "nhà tư tưởng về khủng hoảng" lớn đầu tiên mà xã hội Tokugawa đã sản xuất. Bênh vực ông hay chống lại ông, trí thức sau ông đều là con đẻ của ông, bởi vì đều chịu ảnh hưởng vô cùng lớn của ông, nhất là trên mặt phương pháp.

Sau Sorai: Norinaga

Sau Sorai, một học phái khác xuất hiện, chế ngự thế giới trí thức của Nhật: học phái "nghiên cứu quốc học" mà chủ xướng là Motoori Norinaga (1730-1801). Hai ông khác nhau như hai thái cực, nhưng ông này có thể được xem như sợi dây nối dài của ông kia trên mặt lập thuyết. Học phái "nghiên cứu quốc học" đả kích Khổng giáo tận cội rễ, thay thế bằng việc đề cao lịch sử và văn học của Nhật. Họ nói: Thánh nhân hoặc Vua Xưa của Tàu là Vua và Thánh nhân của Tàu, bởi vậy giáo huấn của họ chẳng thích hợp gì để hiểu đặc điểm riêng của lịch sử Nhật. Thay vì Thánh ấy và Vua ấy, Norinaga đề cao các vị thần đã tạo ra nước Nhật. Thay vì thánh điển của Tàu, ông đưa ra thi và thư, đầy diễm lệ, đã kể chuyện nguồn gốc, đã sinh thành ra văn hóa của nước ông. Ta có thể đoán trước: học phái "nghiên cứu quốc học" góp phần tạo ra cơ sở ý thức hệ cho phong trào phục hưng lại quyền của Vua đã bị Tướng Quân tước đoạt, và, sau đó, của chủ nghĩa dân tộc đã đưa nước Nhật đến chiến tranh. Chuyện đó không nói ở đây. Ở đây chuyện để nói là: qua tư tưởng của Sorai và Norinaga, chính trị, lịch sử và văn chương, trước đây bị Khổng giáo buộc chặt thành hệ thống, bây giờ bị tách biệt ra với nhau. Từ sự tách biệt đó, ý thức về hiện đại manh nha. Tuy vậy, lịch sử vẫn luôn luôn đòi hỏi phải cắt nghĩa. Phải giải thích cho bằng được ý nghĩa ẩn nấp sau các sự kiện. Không còn là tấm gương luân lý nữa thì nó là cái gì? Cái gì còn giữ mãi hoài niệm về một quá khứ hài hòa đã mất? Ước muốn tìm lại sự thống nhất nguyên thủy giữa quyền lực và lễ nghi, sự gần gũi giữa người và thần, sẽ đưa đến việc thành lập chính quyền Minh Trị, đặt cơ sở trên cá nhân của Thiên Hoàng, người nắm mọi uy quyền, người có nguồn gốc thần linh, như thuở trước.

Nhưng trước khi đi đến kết luận đó, hãy trở về với mối liên hệ giữa Sorai và Norinaga. Có thể nói là có liên hệ không, khi Norinaga chỉ trích học thuyết của Sorai là vẫn còn nô lệ tư tưởng của Tàu? Có thể. Đó là liên hệ vừa đối nghịch vừa tiếp nối.

Trước hết là về vấn đề thần đạo ở Nhật. Sorai không nói gì về thần đạo. Và đúng là ông đã nâng các Thánh nhân và các Vua Xưa của Trung Quốc lên hàng thần thánh, đối tượng của tín ngưỡng. Học phái của Norinaga nói: hạ bệ Lí, nhưng sùng bái Thánh nhân của Tàu, như vậy là Sorai mới đi được nửa đường. Huống hồ, cái nhìn của Sorai về Vua Xưa tựu trung vẫn là cái nhìn chính trị: một uy quyền chính trị đâu có ví được với uy quyền của thần linh? Uy quyền chính trị bị hạn chế trong thời gian và không gian, thời gian đó là thượng cổ, không gian đó là nước Trung Hoa. Cực kỳ nghiêm khắc, họ viết: "Người ta gọi Đạo là những gì do Thánh nhân lập ra. Như vậy, cái mà ta gọi là Đạo của người Trung Hoa, trong ý định sâu thẳm nhất, giới hạn vào hai việc: một là đi xâm chiếm lân bang, hai là không để cho lân bang xâm chiếm". Chính trị chẳng phải là như vậy sao? Lý luận của Sorai bị lật ngược. Sorai nói: Đạo là tuyệt đối vì đó là sáng tạo của Thánh nhân. Phái Norinaga nói: chính vì đó là sáng tạo của Thánh nhân nên nó chỉ có giá trị với người Trung Quốc.

Về Thần đạo, hồi đầu thời Tokugawa, Khổng giáo được nâng lên bậc nhất, các vị Nho gia đòi triệt hạ Phật giáo, và cách triệt hạ tinh tế nhất là giải phóng Thần đạo ra khỏi ảnh hưởng Phật giáo và ghép tín ngưỡng này vào Khổng giáo. Điển hình là giải thích sau đây của một Nho gia đầu đàn (Nobuyoshi): "Thần đạo của Nhật cũng sửa tâm con người, cũng có ý định tối hậu là trải lòng thương xót ra đến mọi người, cũng thực hiện lòng nhân. Đạo của Nghiêu Thuấn cũng đáp ứng ý định đó. Điều đó, ở Trung Hoa thì gọi là Đạo Khổng, ở Nhật Bản thì gọi là Thần đạo: tên gọi khác nhau, ý định chỉ một".

Sorai không chấp nhận sự cưỡng hôn đó. Đạo của Thánh nhân là Đạo của Thánh nhân; Thần đạo không việc gì mà xía vào. Người Nhật thờ phụng thần linh của nước mình là phải, Thánh nhân cũng muốn thế. Và ông đóng cửa, không cho Thần đạo len vào hội trường của ông.

Ở hai thái độ đối nghịch, Norinaga tiếp nối Sorai: một bên không muốn Khổng giáo của Trung Hoa làm bẩn Thần đạo của Nhật; một bên không muốn Thần đạo xen vào Khổng giáo. Đi xa hơn nữa, Norinaga phục hưng lại cái mà ông gọi là "Thần đạo nguyên thủy", giải phóng Thần đạo ra khỏi triết lý Khổng giáo: "Thần linh, trong cái nước kia - nghĩa là Trung Hoa - chỉ là một nguyên tắc trống rỗng, chẳng có chút bản chất gì; thần linh trong nước ta là tổ tiên của Thiên Hoàng, của chúng ta, chẳng liên hệ gì đến cái nguyên tắc trống rỗng ấy cả".

Mối liên hệ nối dài thứ hai giữa Sorai và Norinaga liên quan đến cái nhìn về lịch sử. Sorai, như đã nói, bác bỏ lối đọc lịch sử qua lăng kính đạo đức. Norinaga, đi xa hơn, bác bỏ luôn cách đọc lịch sử như tuân theo những nguyên tắc siêu nhân loại, kiểu thiên mệnh, ý muốn của Trời, Đạo, thần linh… Ông trích ra nhiều ví dụ cho thấy kẻ ngay bị diệt, kẻ gian được tôn. Bởi vì thiện ác, ông nói, không có ăn nhậu gì với tư cách thần linh. Trong Thần đạo, có thần ác (Magatsubi no kami) chuyên môn mang tai họa và bệnh tật, và ngay đến cả thần thiện cũng không phải chỉ làm toàn chuyện tốt. "Các ông Khổng Nho nói cái gì cũng phải hợp lý, cho nên các ông không để cho các thần thiện dính một chút bụi dơ. Còn ta, ta phải biết rằng thần linh chỉ là những người cao hơn người thường mà thôi".

Noranaga cũng từ khước đọc lịch sử theo lối hoài cổ, lý tưởng nằm ở sau lưng, xa tít tận thời Nghiêu Thuấn, lịch sử càng đi càng tiến đến chỗ xấu hơn. Cái lối ngoái cổ lại đàng sau để nhìn, ông nói, và nhìn theo một nguyên tắc chỉ đạo đã vạch sẵn, là lối suy nghĩ của Tàu. Chả nhẽ ở thời Nghiêu Thuấn cái gì cũng tốt cả? Sao lại bảo rằng sau thời Tam Hoàng thì con người bị dơ bẩn vì ham muốn? Chả nhẽ con người dưới thời Nghiêu Thuấn chẳng ai ham muốn cả sao?

Từ đó, mối liên hệ nối dài thứ ba liên quan đến việc giải phóng tính tự nhiên của con người bị Tống Nho cho mang gông dưới khái niệm "nhân dục". Sorai đã mở đầu bằng cách chặt đứt tu thân với trị quốc, tu thân là tư, trị quốc là công. Norinaga đi xa hơn: không những ông chấp nhận tính tự nhiên mà còn chính đáng hóa nó. Đạo không phải do học mà biết; nó nằm trong tim chân thật của con người ngay từ khi sinh, trái tim chân thật là trái tim có khi sinh ra, dù tốt hay xấu. Tuy vậy, ông nói tiếp: "Con người ở những thời đại về sau, vì cứ mãi mê hướng theo tư tưởng của Tàu, và do đó mất đi trái tim chân thật, cho nên không còn biết Đạo là gì nữa nếu không học". Vậy thì Đạo là tính tự nhiên của "ham muốn trong con người". Một trong những tác giả sáng chói đầu thời Minh Trị (Tsuda Manichi) tiếp nối ý tưởng của Norinaga theo một quan điểm tiến bộ hơn: "Tại sao chối bỏ, không nhận ham muốn của con người cũng là thành phần của Lí? Hoài bảo thấu hiểu bản chất của sự vật, ý muốn tìm tòi cái gì mới, hưởng thụ tự do, khao khát hạnh phúc: tất cả những đam mê đó, tiêu biểu cho những ý muốn cao đẹp nhất của con người, chẳng phải là cần thiết cho bản tính của con người hay sao?Tất cả chẳng hợp lại để bảo đảm cho tiến bộ hay sao?"

Không ở đâu sự giải phóng đó hiển lộ rõ bằng trong quan niệm về văn chương. Sorai giải phóng thơ ra khỏi luân lý và chính trị. Kinh Thi cũng giống như thơ Nhật, chẳng có chỗ nào liên quan đến tốt xấu, cũng chỉ là thở than và reo vui. Có điều là hiểu thơ tinh tế thì có lợi cho ai ngồi trên chóp bu thiên hạ. Norinaga cũng nói vậy: "Mục đích của thơ chẳng phải là để tu thân trị quốc gì cả, chỉ là để diễn tả tình cảm của trái tim… Ba trăm bài thơ trong Kinh Thi yểu điệu thật, cũng chỉ diễn tả tình cảm thôi, cho nên, giống như lời nói thốt ra từ miệng các cô thiếu nữ, thơ ấy cũng vẩn vơ, chẳng có gì sâu sắc".

So sánh thơ Nhật với thơ Tàu, ông cho thơ Nhật không thua. Đi xa hơn, ông trân trọng đặt thơ vào vị trí trung tâm của Thần đạo, cho rằng hồn của thơ (mono no aware) cũng là hồn của chính Thần đạo. Đạo của các thần, ông viết, chẳng những không vướng chút vết tích nào của lối biện luận tăn măn tỷ mỷ trong Khổng giáo, mà còn tràn đầy phong phú, diễm lệ. Cái duyên dáng ấy tạo ra hồn thơ vô cùng thích hợp với Đạo ấy. Trường phái của Norinaga xem hồn thơ đó trong thơ của Nhật có thể mang đến bình yên và hài hòa cho con người và cho xã hội. Quan niệm đó đưa đến bao nhiêu tranh cãi: vậy thơ cũng có chức năng xã hội và chính trị hay sao? Vậy thơ là thuộc lĩnh vực công hay tư?

Vấn đề này lớn quá, không bàn ở đây. Chỉ trích thêm một câu của Norinaga để chấm dứt: "Lửa tự nó nóng, nước tự nó lạnh. Không thể hiểu được vì nguyên tắc gì mà chúng nóng lạnh như thế. Để làm cho thiên hạ tưởng rằng ta có thể biết nguyên nhân, người ta bày đặt ra âm dương, thái cực, rồi đưa thái cực lên hàng thánh của tất cả các thánh, hoặc thiêng liêng hóa những đối cực, lí là lửa, phương đông, mùa xuân, khôn là nước, phương tây, mùa thu, khiến cho ai muốn nói cái gì cũng được, tả cũng được, hữu cũng xong. Tát cả những chuyện đó chỉ là đầu óc vặn vẹo do tưởng tượng của các ông thánh Trung Hoa mà ra".

♦ ♦ ♦



Tôi có hai điều muốn nói trước khi kết thúc:

Trước hết, mục đích của tôi không phải là để tán dương hai nhà học giả Nhật. Không phải cái gì các ông ấy nói tôi đều tán thành, kể cả về mặt cấu trúc tư tưởng. Tư tưởng của Sorai rất vững chắc trên lý tính, rất hợp với lý tính, rất rationnel. Mà ai cũng biết, rationalisme là một đặc tính thiết yếu của hiện đại. Thế nhưng, từ tính hợp lý trong phương pháp, lập luận của ông đi đến tính bất hợp lý, irrationnel, trong kết luận, khi ông đặt lòng tin tuyệt đối vào các Thánh nhân. Người đọc bỡ ngỡ tự hỏi: thay Trời Phật bằng Thánh nhân, tư tưởng triết lý có cao hơn lên hay thấp xuống bớt? Norinaga lại càng đi xa hơn trong tính bất hợp lý: phục hưng lại Thần đạo, thần quyền của Thiên Hoàng, tin tưởng tuyệt đối vào các thần trong đạo ấy, thế chẳng phải là thay thế một tín ngưỡng bằng một tín ngưỡng khác chẳng phổ quát gì hơn? Cả hai ông nhiều khi nhuộm tư tưởng của mình với màu sắc thần bí (mystique) đến độ làm phương hại cho phương pháp thực nghiệm (positiviste) rất hiện đại của mình.

Tuy vậy, đó chưa phải là quan tâm của người viết. Câu hỏi chính là: tại sao người Nhật biết xét lại vấn đề từ hồi thế kỷ 17-18 còn ta thì không? Còn ta thì phải đợi đến Phan Khôi của những năm 1930 khi Khổng học đã chiều tà xế bóng? Đọc Sorai, người đọc thấy ông sùng bái văn hóa Trung Hoa không thua gì các nhà nho của ta, vậy mà ông vẫn đặt lại vấn đề. Đặt lại vấn đề, như vậy, đâu có bị phong kiến đương thời coi là chống đối? Là phản loạn? Hóa ra phong kiến cũng nhận biết rằng đặt lại vấn đề là chuyện bình thường của cái đầu. Cái gì đã khiến ta không làm thế? Cái gì đã khiến ta khác Nhật? Đầu óc nô lệ chăng? Hay là xã hội ta ở thời đại đó bị chiến tranh liên miên, nào Lê, nào Trịnh, nào Mạc, nào Tây Sơn, nào Nguyễn, chỉ mỗi vấn đề chính thống đã làm kiệt quệ hết tư tưởng?

Thứ hai, xã hội Nhật thời Tokugawa là một xã hội đóng, cô lập với thế giới, cả Sorai lẫn Norinaga đều không biết mô hình nào khác mô hình phong kiến, cả hai đều không có ý đả phá chế độ phong kiến, cả hai đều phò tá các tướng quân. Vậy mà, trong xã hội đóng ấy, tư tưởng vẫn có thể mở, hai trường phái chính mà hai ông là thủ lãnh vẫn thu hút đông đảo trí thức Chính nhờ tư tưởng đã đi trước thời đại như vậy tự bên trong, không cần có bên ngoài tác động, mà vua Minh Trị mới dám quả quyết khi mở nước Nhật ra cho thế giới bên ngoài: duy tân là giữ hồn Nhật, chỉ mượn phương Tây về kỹ thuật mà thôi. Họ biết đâu là hồn của họ khi mở cửa. Xã hội ta ngày nay, ngược lại, là một xã hội mở, mở loạn xà ngầu, thế mà tư tưởng thì đóng, sinh hoạt trí thức rách rưới, bần hàn. Ai có chút suy nghĩ đều không thể tự đặt câu hỏi: tình trạng ấy có bình thường không?



Chú thích

Quyển sách của Maruyama, xuất bản lần đầu tại Nhật năm 1952, tập hợp những nghiên cứu ông viết trong khoảng thời gian 1940-1944 Chi tiết này rất quan trọng để hiểu tư tưởng của tác giả và những tranh luận sau đó. Đó là khoảng thời gian mà nước Nhật phát xít lao vào đại chiến thứ hai. Trí thức tiến bộ, Maruyama không vui vẻ gì với chế độ quân phiệt.

Về điểm này, cũng như về tư tưởng của Maruyama, một trong những trí thức đầu đàn thời hậu chiến, có thể xem:

- Mary L. Hanneman: The Old Generation (Mid) Showa Japan: Hasegawa Nyosekan, Maruyama Masao, and Post-War Thought, Historian, Vol. 69, N° 3, Fall 2007.

- Andrew E. Barshay: Imagining Democracy in Post-War Japan: Reflections on Maruyama Masao and Modernism, Journal of Japanese Studies, Vol. 18, N° 2, Summer 1992.- -…

- Laura Hein, điểm sách, Tadashi Karube: Maruyama Masao and the Fate of Liberalism in Twentieth Century, American Historican Review, Vol. 114, N° 1, Feb. 2009.
__________________
sống trên đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không?.....
để.. buốt... trái... tim.....
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #43  
Cũ 17-08-2010, 03:44 PM
huyngoc's Avatar
huyngoc huyngoc đã thoát
Nghệ nhân
 
Tham gia ngày: Jul 2009
Đến từ: dày đây mai đó đã từng
Bài gửi: 637
Thanks: 67
Thanked 39 Times in 35 Posts
Mặc định Ðề: mục thơ văn , và suy ngẫm

Trích:
Nguyên văn bởi huyngoc Xem bài viết
Mười điều vợ dặn không sai một điều.


- Thứ nhất không được nhậu nhiều
Đúng năm rưỡi chiều là phải... hồi gia.

- Thứ hai không được lân la
Mấy nơi thư giãn mát-xa mát gần.

- Thứ ba cứ mỗi cuối tuần
Chở vợ đi sắm áo quần thời trang.

- Thứ tư tiền thưởng tiền lương
Lãnh về nộp đủ vợ thương nhất đời.

- Thứ năm vợ có lắm lời
Cũng phải vui vẻ mà ngồi lắng nghe.

- Thứ sáu tiền định đổi xe
Sắm vàng cho vợ đeo khoe xóm giềng.

- Thứ bảy là phải thật siêng
Giúp vợ chợ búa nấu ăn giặt đồ.

- Thứ tám không được có bồ
Không được tơ tưởng mấy cô chân dài.

- Thứ chín không được bạc bài
Không chơi đề đóm có ngày... tan gia.

- Thứ mười không được bê tha
Việc nước chu tất, việc nhà...“đảm đang”

Mười điều vợ dặn rõ ràng
Nhớ thực hiện, kẻo lỡ làng đời trai...

-> đứa bạn mình gửi cho , đưa lên anh em đọc cho vui , khi nào rảnh xin vịnh lại đủ mười điều này , nói thật chắc mình dính gần hết cho lên không thể không bào chữa giúp những anh em chung chí hướng được!

Môt thương đôi má của nàng, xoa toàn mỹ phẫm anh tàn tháng lương.
Hai thương giọng ngọt như đường, nàng xin môt tiếng vua nhường mất ngôi.
Ba thương đo đỏ đôi môi, anh không chạm đươc sợ trôi son nàng.
Bốn thương mười ngón thiên đàng, móng nàng lạ lắm, lúc vàng lúc xanh.
Năm thương đôi măt long lanh, liếc tình cọp cũng biến thành nai tơ.
Sáu thương cái nết ngây thơ, quen nàng môt tháng anh khờ ba năm.
Bảy thương cái mặt chằm dzằm, đòi mua môt cái áo đầm mới dzui.
Tám thương mái tóc buông xuôi, làm anh điêu đứng bởi mùi dzầu thơm.
Chín thương nàng biêt nấu cơm, ba năm môt món anh ròm như ma
__________________
sống trên đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không?.....
để.. buốt... trái... tim.....
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #44  
Cũ 18-08-2010, 10:23 AM
huyngoc's Avatar
huyngoc huyngoc đã thoát
Nghệ nhân
 
Tham gia ngày: Jul 2009
Đến từ: dày đây mai đó đã từng
Bài gửi: 637
Thanks: 67
Thanked 39 Times in 35 Posts
Mặc định Ðề: mục thơ văn , và suy ngẫm

50 cuốn sách văn học cần đọc (Recommended by Teacher Tan) PDF In E-mail
Người viết: Thái Bá Tân
25/11/2006



50 cuốn sách văn học cần đọc (Recommended by Teacher Tan)

1.Kinh Thánh (Phần đầu của Cựu ước - để hiểu về sự hình thành thế giới, và một trong bốn kinh Phúc Âm, the gospel, của Tân ước – về cuộc đời chúa Jesus). Có thể tìm mua bản tiếng Việt ở các nhà thờ.

2. Một cuốn Lịch sử thế giới, đủ cả cổ đại, trung đại, cận đại và hiện đại, đặc biệt phần cổ đại để hiểu các nền văn minh Ai Cập, Lưỡng Hà, Trung Quốc và Hy Lạp. Một cuốn sử Việt Nam. Có thể đọc Viêt Nam Lược Sử của Trần Trong Kim, hiện có bán ngoài hiệu sách..

3. Những nền văn minh thế giới, NXB Văn Hóa, 1999.

4. Tân Bách khoa Toàn thư dành cho tuổi trẻ, NXB Lao Động, cuốn sách giải đáp ngắn gọn hầu như tất cả các câu hỏi về thiên nhiên, xã hội, văn hóa…

5. Thần thoại Hy Lạp (nếu có thời gian đọc thêm Iliat va Ôđixê của Homer). Không đọc cuốn này và Kinh Thánh, không thể hiểu đầy đủ nghệ thuật phương Tây.

6. Nghìn lẻ một đêm, truyện cổ tích Arập.

7. Truyện cổ tích Anderson, Đan Mạch. (Hai cuốn này rất cần để phát triển tí tưởng tượng).

8. Đôn Kihôtê của Cervantes, Tây Ban Nha, tác phẩm được xem là hay nhất xưa nay của nhân loại.

9. Kịch Sêcxpia, những vở bi kịch vĩ đại như Hamlet, Otello, Romeo and Juliet, King Lear, Marbet …

10. Tứ Thư, của Khổng Tử. Cuốn này đọc từ từ, nghiền ngẫm và chiêm nghiệm, đặc biệt phần Trung Dung.

11. Chiến tranh và Hòa Bình, Tônxtôi, Nga.

12. Những người khốn khổ, Victo Huygô, Pháp.

13. Thằng ngốc (Gã khờ), của Đôxtôiepxki, Nga. Nên đọc thêm Tội ác và Trừng phạt.

14. Truyện ngắn Sêkhốp, Nga.

15. Truyện ngắn Môpaxăng, Pháp.

16. Truyện vừa Stefan Zweig, Áo.

27. Ơgêni Grăngđê, Banzăc, Pháp.

18. Cuốn theo chiều gió, Margaret Michel, Mỹ.

19. David Coperfield, hoặc Oliver Twist, Đickenx, Anh.

20. Hội chợ phù hoa, Thackeray, Anh.

21. Jên Erơ, Charlotte Bronte, Anh.

22. Đồi gió hú, Emily Bronte, Anh.

23. Thơ tình thế giới chọn lọc, (Triệu bông hồng) bản dịch Thái Bá Tân).

24. Evghêni Onêgin, tiểu thuyết thơ và truyện vừa của Puskin, Nga,

25. Liêu trai chí dị, truyện ma Bồ Tùng Linh, Trung Quốc.

26. Sử ký Tư Mã Thiên, Trung Quốc.

27. Tiềng rền của núi, hoặc Xứ tuyết, Kawabata, Nhật Bản.

28. Bố già, Mario Puzzô, Mỹ.

29. Truyện ngắn Pirandelo, Italia.

30. Tiếng chim hót trong bụi mận gai (Tiếng Anh: The thorn bird, phim Trở về Eden), Australia.

31. Ba chàng ngự lâm pháo thủ, A. Dumas, Pháp. (Có thể thay bằng Bá tước Mont Cristo của cùng tác giả).

32. Madam Bovary, Flaubert, Pháp.

33. Mối tình đầu, Turgenev, Nga.

34. Bình minh mưa, truyện ngắn, và Bông hồng vàng của Pauxtôpxki, Nga.

35. Truyện ngắn Ivan Bunin, Nga.

36. Tiếng gọi nơi hoang dã, và các truyện ngắn của Jack London, Mỹ.

37. Tom Soyer của M. Twain, Mỹ.

38. Không gia đình, Hecto Malô, Pháp.

39. Hoàng tử nhỏ, Saint Exuynbery, Pháp.

40. Bác sĩ Jivagô, (Vĩnh biệt tình em) B. Pasternac, Nga.

41. Nghệ nhân và Margareta, của Bungacôp, Nga.

42. Ngươi anh hùng thời đại, Lecmôntôp, Nga.

43. Harry Potter. Có thể thay cuốn này bằng cuốn Truyện trinh thám Sherlock Holmes.

44. Truyện ngắn Andre Mauroir, Pháp.

45. Truyện ngắn O. Henry, Mỹ.

46. Hồng lâu mộng, Tào Tuyết Cần, Trung Quốc.

47. Một cuốn thể loại tiểu sử, như Tiểu sử Napôlêông (thầy quên mất tên tác giả).

48. Phục sinh, tiểu thuyết của Tônxtôi.

49. Truyện ngắn Somerset Maugham, Anh.

50. Nhà thờ Đức Bà Paris của Victor Hugo.

PS. Bổ sung thêm hai cuốn nữa có trên trang web này, là Cổ Thi Tác Dịch và Thơ Cổ Ba Tư. Không phải vì do thầy dịch, mà thực sự rất hay. Cuốn đầu giúp các em thưởng thức cái tinh tế, trữ tình của thơ Đường Tống và các nhà thơ cổ Việt Nam. Cuốn sau là cả một kho triết lý. Thầy đã dành cả chục năm để dịch, hy vọng mang lại cho các em một vài giờ thư giãn.


->đây la người huyngoc rất ngưỡng mộ bạn hỏi sinh viên nào của bách khoa cũng biết thầy mặc dù thầy không phải giáo viên trong trương tiếc thay thời gian huyngoc được họ hỏi từ thầy không nhiều lên không giám nhận xét gì , các bạn có thể gặp thầy ở kho giảng đường D6 BÁCH KHOA
__________________
sống trên đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không?.....
để.. buốt... trái... tim.....
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #45  
Cũ 04-09-2010, 12:53 PM
huyngoc's Avatar
huyngoc huyngoc đã thoát
Nghệ nhân
 
Tham gia ngày: Jul 2009
Đến từ: dày đây mai đó đã từng
Bài gửi: 637
Thanks: 67
Thanked 39 Times in 35 Posts
Mặc định Ðề: mục thơ văn , và suy ngẫm

Nhà văn Băng Sơn.
Vĩnh biệt một cây bút chuyên viết về Hà Nội
11:08:00 04/09/2010, cập nhật cách đây 17 phút
Sau 7 tháng nằm viện vì bị tai biến mạch máu não, 8h15’ ngày 3/9/2010, nhà văn Băng Sơn đã trút hơi thở cuối cùng tại nhà riêng ở 66 Lê Văn Hưu, Hà Nội, hưởng thọ 78 tuổi.

Nhà văn Băng Sơn tên thật là Trần Quang Bốn, sinh ngày 18/12/1932, quê ở Bình Lục (Hà Nam), nhưng ông sinh ra và lớn lên ở Cẩm Giàng (Hải Dương) và mảnh đất Hà thành lại là nơi ông bắt đầu với nghiệp văn chương. Từ năm 1949, khi còn đang là học sinh, ông đã có nhiều bài thơ, văn xuôi được đăng báo. Rời ghế nhà trường, ông lại quay sang viết kịch, làm báo cho đến khi về hưu.

Nhà văn Băng Sơn nổi tiếng là cây bút chuyên viết về Hà Nội với tất cả tâm huyết, dấu yêu. Những trang viết của ông thấm đẫm chất thơ và tình yêu Hà Nội, với những kiến thức đầy lý thú về mảnh đất kinh kỳ, qua sự "công phu đào sâu vào từng góc nhỏ của xã hội" của một con mắt tinh tế, giàu cảm xúc.

Hàng loạt các tác phẩm viết về Hà Nội của ông đã tạo được ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc: "Thú ăn chơi người Hà Nội" (4 tập), "Đường vào Hà Nội", "Dòng sông Hà Nội", "Phập phồng Hà Nội", "Hà Nội 36 phố phường" vv…

Ông đã giành được nhiều giải thưởng lớn trong sự nghiệp văn chương: Giải Hội Nhà văn Việt Nam về thiếu nhi, giải Báo Nhi Đồng, giải viết về "Hà Nội nghìn năm" của Báo Hà Nội Mới, giải kịch bản văn học của Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam vv…

Năm 2009 ông được chọn là một trong ba đề cử của giải thưởng "Giải thưởng lớn - Vì tình yêu Hà Nội" trong giải thưởng "Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội". Ông ra đi, để lại nhiều dự định viết về Hà Nội dang dở mà ông đã ấp ủ trong trái tim….
__________________
sống trên đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không?.....
để.. buốt... trái... tim.....
Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời

Bookmarks


Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền viết bài
Bạn không thể gửi chủ đề mới
Bạn không thể gửi trả lời
Bạn không thể gửi file đính kèm
Bạn không thể sửa bài viết của mình

BB code is Mở
Mặt cười đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến


Múi giờ GMT. Hiện tại là 06:00 AM


Powered by: vBulletin v3.7.3 Copyright ©2000-2010, Jelsoft Enterprises Ltd.
Bản quyền thuộc VÀNG BẠC CHÂU KHÊ ( Chau Khe Jewelry ). Hỗ trợ kỹ thuật bởi Mạng Thiết kê thương hiệu.





Quảng cáo dịch vụ: thiet ke logo | cong ty quang cao | công ty quảng cáo | thiết kế logo | thiet ke quang cao | thiet ke showroom | thiet ke do hoa | thiết kế quảng cáo | thiet ke bao bi | thiết kế tờ rơi | thiet ke in an | xây dựng thương hiệu | in brochure | thiet ke to roi | thiết kế in ấn | thiết kế showroom | thiet ke bien quang cao | cong ty thiet ke logo | thiết kế brochure | công ty thiết kế | thiet ke in | thiết kế bao bì | thiet ke my thuat | thiet ke poster | thiết kế catalogue | thiet ke catalogue | thiet ke brochure | thiết kế poster | cong ty thiet ke quang cao | công ty thiết kế quảng cáo | xay dung thuong hieu | thiết kế thương hiệu | thiết kế catalog | lam catalog | thiết kế profile | thiet ke thuong hieu | bộ nhận diện thương hiệu | cong ty thiet ke in an | thiết kế bìa sách | sales kit | gia thiet ke logo | thiết kế đồ họa | thiet ke profile cong ty | nhan dien thuong hieu | làm brochure | cong ty thiet ke bao bi | thiết kế logo công ty | giá thiết kế logo | thiet ke catalog | cong ty thiet ke | cong ty thiet ke brochure | in an brochure | lam brochure | công ty thiết kế in ấn | thiết kế in ấn quảng cáo | in an to roi | thiết kế bao bì sản phẩm | công ty thiết kế bao bì | thiet ke bao bi san pham | thiết kế biển quảng cáo | thiet ke bien | sale kit | công ty thiết kế logo | chuan hoa logo | bao gia thiet ke logo | catalogue design | in catalog | thiết kế mỹ thuật | he thong nhan dien thuong hieu | thiết kế hệ thống nhận diện thương hiệu | thiet ke he thong nhan dien thuong hieu | thiết kế bộ nhận diện thương hiệu | cac buoc xay dung thuong hieu | giá in brochure | thiết kế nhãn mác sản phẩm | thiết kế vỏ hộp | thiết kế biển | cong ty thiet ke bien | thiết kế quảng cáo báo | thiet ke quang cao bao | thiet ke bia sach | logo design | báo giá thiết kế logo | quy chuẩn logo | chuẩn hóa logo | quy chuan logo | catalog | catalogue | catalog design | thiet ke in an catalogue | thiet ke catalo | thiết kế catalo | cong ty thiet ke catalog | thiết kế in ấn catalog | công ty thiết kế catalog | công ty thiết kế catalogue | báo giá thiết kế catalog | bao gia thiet ke catalog | gia thiet ke catalog | giá thiết kế catalog | làm catalog | e-catalog | e-brochure | Flash website | CD demo | thiết kế flash | thiet ke flash | thiết kế web flash | thiet ke web flash | flash banner | flash logo | banner website | logo flash | quảng cáo trực tuyến | thiết kế banner | banner quảng cáo | banner quang cao | thiet ke banner | trao doi logo | banner động | thiet ke profile | thiết kế profile công ty | xây dựng và phát triển thương hiệu | xay dung va phat trien thuong hieu | bo nhan dien thuong hieu | thiet ke nhan dien thuong hieu | thiet ke bo nhan dien thuong hieu | thiet ke thuong hieu cong ty | quy trinh xay dung thuong hieu | công ty thiết kế brochure | thiết kế in ấn brochure | thiet ke in brochure | thiet ke in an brochure | thiet ke e-brochure | thiet ke ebochure | thiết kế e-brochure | giá thiết kế brochure | công ty thiết kế và in ấn | thiet ke in an quang cao | thiet ke to gap | cong ty thiet ke to roi | công ty thiết kế tờ rơi | thiết kế in ấn tờ rơi | thiết kế nhãn mác | thiết kế in bao bì | thiet ke nhan mac san pham | thiet ke vo hop | thiết kế túi đựng sản phẩm | thiet ke nhan mac | thiết kế túi giấy | thiet ke tui giay | cong ty thiet ke nhan mac | thiết kế tem nhãn | thiet ke tem nhan | công ty thiết kế biển quảng cáo | thi công biển bảng | thiết kế biển bạt | thiết kế biển tấm lớn | thiet ke bien tam lon | thiết kế biển bảng | thiet ke bien bang | thiết kế in ấn poster | thiet ke bao chi | thiết kế mẫu quảng cáo trên báo in | thiet ke tap chi | thiet ke bao | thiết kế quảng cáo tạp chí | thiết kế kẹp tài liệu | thiet ke kep file | thiet ke kep tai lieu | thiết kế kẹp file | thiet ke bia tap chi | trình bày bìa sách | thiết kế triển lãm | thiet ke show room | dàn dựng showroom | thiết kế showroom triển lãm | thiết kế gian hàng hội trợ | quang cao google | quảng cáo google | tài liệu chào hàng | tai lieu chao hang | tài liệu bán hàng | tai lieu ban hang